“Gió qua miền sông chảy”

14/09/2018 - 08:04

Đó là tên tập ký thứ 4 của tác giả Nguyễn Thảo Nguyên sau tập truyện “Chim vịt kêu chiều” (2011), tiểu thuyết “Bóng nắng sân trường” (2014) và tập truyện “Tháng Bảy mưa Ngâu”(2015). Gần 10 năm trở lại đây, có thể nói, Nguyễn Thảo Nguyên là một trong những tác giả có bút lực khá dồi dào, sung sức trên văn đàn tỉnh và khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Anh đoạt giải C của Ủy ban Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam 2012; Giải nhất truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long 2015.

Tập ký “Gió qua miền sông chảy” là tập hợp 11 bài ký được viết từ năm 2013 - 2018, trong đó, chỉ riêng năm 2016 là 6 bài ký: Gió qua miền sông chảy (2-2016), Có những dòng sông (5-2016), Đời biển (5-2016), Đến Phú Yên (5-2016), Đêm sông Hương gợi niềm hoài cổ (7-2016), Mưa chiều Nam Du (11-2016).

Môi trường trong ký

Tổng thể đây là tập ký viết nhiều về môi trường. Đi thực tế ở đâu anh cũng chú ý ghi chép tỉ mỉ, với những trích dẫn khoa học, chuẩn xác đầy cảnh báo, nhiều ám ảnh một tương lai gần về môi trường từ đồng bằng, rừng núi đến sông biển. Trong ký “Có những dòng sông”, anh viết: (1) “Những năm gần đây, người ta hay dùng cụm từ “sự biến đổi khí hậu” để liên hệ các thay đổi bất thường của tự nhiên, trong đó có lũ, hạn, mặn của sông. Mẹ nói suy cho cùng cũng do con người cả thôi. Đúng vậy! Con người phá rừng đầu nguồn làm triệt tiêu thảm thực vật và cũng mất đi hệ rễ cây giữ nước mùa mưa. Nước không giữ lại gây lũ. Lại còn khai thác bùn, cát tràn lan làm biến dạng bờ và lòng sông gây nắn đổi dòng chảy…”. Còn nhớ trận lũ lịch sử ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) năm 2000 dẫn đến 539 người chết, 212 người bị thương, hơn 890 ngàn căn nhà, 13.793 phòng học, 383 cơ sở y tế bị ngập trong nước, hơn 9.457 căn nhà bị sập hoàn toàn… Tổng thiệt hại của trận lũ lịch sử này ước tính khoảng 4.626 tỷ đồng” (Nguồn các trận lũ lịch sử/Dữ liệu thiên tai Việt Nam). (2) “Tại Hội nghị Đối tác phát triển và các nhà tài trợ quốc tế về tình hình hạn hán, xâm nhập mặn khu vực ĐBSCL, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên” diễn ra vào chiều 15-3-2016 ở Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát cho biết, đến nay lượng nước giảm 50%... Có thể không phải tới Vũng Tàu mà vẫn cảm nhận từ độ mặn ở TP. Bến Tre, nơi cách biển 40km. Hiện 160/164 xã ở tỉnh này bị mặn bao vây”. (Nguồn: baomoi.com.VOV 15-3-16).

Trong bài ký “Một thoáng Tây Nguyên”, anh viết: “… Bộ Lâm nghiệp ra Quyết định số 301/TCLD (ngày 24-6-1992 thành lập Vườn Quốc gia Yok Đôn trực thuộc Bộ Lâm nghiệp). Đến ngày 18-3-2002, Vườn Quốc gia Yok Đôn được mở rộng với diện tích 115.545 héc-ta cộng thêm vùng đệm có diện tích 133.890 héc-ta theo Quyết định số 39/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ… Song tôi hiểu trong lòng khu hệ sinh thái này đang từng ngày từng giờ xảy ra diễn thế mà trong các nguyên nhân, đáng báo động nhất là sự can thiệp của bàn tay con người”.

Nhiều đoạn khi đọc tôi cảm thấy thật sự tiếc nuối, xót xa, đắng lòng bởi sự hủy hoại của con người đối với thiên nhiên như trong bài ký “Một thoáng Tây Nguyên”: “Vườn quốc gia Yok Đôn đang tổn thương nghiêm trọng, một số loài nơi này trước đây được cảnh báo nguy cấp mang tính toàn cầu như: sói đỏ (Cuon alpinus), nai cà toong (Cervus eldi), bò xám (Bos sauveli), chà vá chân đen (Pygathris nigripes), hổ (Panthera tigris)…, nhất là voi châu á (Elephas maximus) đến nay đang sút giảm nghiêm trọng. Thậm chí có loài hầu như không tìm thấy… Trong số 17 cá thể voi hoang dã đã chết từ năm 2009 - 2014 có ít nhất 5 cá thể có nguyên nhân trực tiếp từ con người, bằng chứng là tại hiện trường, xác voi đã mất nhiều bộ phận như ngà, đế bàn chân, đuôi… Bên cạnh voi rừng, đàn voi nhà của Đắk Lắk cũng ngày càng bị thu nhỏ. Thậm chí có những nguyên nhân không tưởng tượng là voi chết do giảm tính đề kháng, nhiễm trùng bởi bị con người chặt trộm đuôi để lấy lông làm đồ mỹ nghệ mang tính tâm linh nào đó”.

Đến sông nước miệt vườn

Nguyễn Thảo Nguyên là nhà văn sinh ra bên bờ sông Sở Hạ, làng Tân Thành, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp lớn lên và trưởng thành bên bờ sông Hàm Luông, tại làng An Hội thuộc TP. Bến Tre. Ở vùng châu thổ sông Cửu Long nên một số tác phẩm của anh cũng gắn bó với vùng sông nước từ những năm tháng tuổi thơ, đặc biệt là con sông Hàm Luông Bến Tre. Ký ức về năm tháng tuổi thơ được tắm mình trong sông nước với những hình ảnh “thứ thiệt” của miệt vườn thật hồn nhiên, dễ thương được anh thể hiện trong bài ký “Có những dòng sông”: “Có những hôm sau khi tắm sông, bọn trẻ chúng tôi lội vào mấy con mương trong miếng đất vườn của ông Biện gần đó để móc hang cá bống dừa. Phải dọn mấy tàu lá dừa khô rụng ngâm dưới nước làm chắn đường lội vào mương. Tàu dừa chỉ rơi và nằm dưới mương vài ngày thôi thì đám trẻ chúng tôi phải lôi lên bờ một cách nặng nề, do phù sa theo những con nước lớn vào hàng ngày lắng đọng tạo thành lớp bùn dày phủ lên. Sau này khi lớn lên, nhìn những con sông dần ô nhiễm cùng với nước nguồn ít về gây cạn dòng, tôi mới hiểu giá trị của những lớp bùn phù sa ấy lớn như thế nào”.

Một điểm đáng ghi nhận là trong hầu hết các bài trong tập ký này anh đều đưa được thơ, nhạc hoặc tràn đầy chất thơ nhạc vào trong các đoạn thật khéo. Giữa hiện thực đắng chát, số liệu khô khan, giữa những đau đáu về cuộc sống, môi trường mà anh đang trải ra trong từng trang viết thì chất thơ, nhạc đã làm tăng chất bay bổng của ký văn học không làm cho người đọc cảm thấy “ngán”, không bị “đồng hóa” với ký sự hay phóng sự báo chí; mặt khác có những đoạn mở mang cho người đọc nhiều vùng kiến thức thật mới mẻ, thú vị đến thi vị. Bài “Đêm sông Hương gợi niềm hoài cổ”, anh viết: “Tác giả Trần Kiêm Đoàn, người con đất Huế, sau này sinh sống và làm việc tại Mỹ trong bài “Mưa Huế” đã viết: “Nếu vào những chiều đầu mùa thu nào đó ở Huế, có những đàn chim bay xao xác từ phía biển lên rừng trên bầu trời lãng đãng có mây hồng pha sắc tím. Đó là khi Huế đã chuyển sang mùa mưa… Mưa Huế thì triền miên, khi đến cũng âm thầm như lúc đi và khi đi cũng lặng lẽ như lúc về nên chẳng có ai nghe. Mưa như rây hạt trên thành phố, buồn đến tím lịm”. Hay trong bài “Một thoáng Sapa”, anh lại nhớ về Cà Mau thật tự hào: “Lúc ấy, trong đầu tôi in thật rõ bài thơ “Mũi Cà Mau” của cố thi sĩ Xuân Diệu, trong đó có 2 câu tiêu biểu mà có lẽ bất kỳ ai tiếp xúc với bài thơ này đều không thể nào quên: “Tổ quốc tôi như một con tàu/ Mũi thuyền ta đó - Mũi Cà Mau…” Vâng! Mũi thuyền đó không bao giờ mệt mỏi. Vẫn bền bỉ ngày đêm vươn ra khơi xa để không ngừng mở rộng mảnh đất hình chữ S, trong niềm vui và tự hào của con dân Đại Việt”.

Có thể nói, qua 11 bài ký trình làng lần này trong tập “Gió qua miền sông chảy” thì phần lớn là những tác phẩm mà tác giả đã tham gia các trại sáng tác do Hội Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu tổ chức. Đây được xem như là sự đầu tư đúng, chất lượng về cả hai phía Hội Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu và tác giả Nguyễn Thảo Nguyên.

Như lời nhắn gửi của tác giả trong bài ký “Mưa chiều Nam Du”: “Hãy đi, các bạn! Quê hương mình đẹp lắm”. Nếu như vì một lý do hay điều kiện, hoàn cảnh nào đó bạn không đi đó, đi đây được thì hãy mở tập ký “Gió qua miền sông chảy” của Nguyễn Thảo Nguyên, bạn sẽ thả hồn cùng con chữ để du lịch khắp mọi miền đất nước.

Nguyên Tương

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN