Bài học máu xương (kỳ 1)

20/09/2019 - 06:40

BDK - Đồn Phong Nẫm không lớn. Thường khi chỉ có chừng một trung đội Bảo an Cộng hòa trú đóng. Đồn cỡ đó kể từ sau Đồng khởi mình đã từng gỡ không phải là ít… ”.

Di tích Đền thờ Trung tướng Đồng Văn Cống tại xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm. ảnh: A. Nguyệt

Di tích Đền thờ Trung tướng Đồng Văn Cống tại xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm. ảnh: A. Nguyệt

Trong không khí se lạnh của những ngày cuối năm, dưới khu vườn dừa rợp mát bên dòng sông Bến Tre, phía hữu ngạn ven sông, công trình bờ kè còn đang thi công dở dang, nhưng người dân quanh đây đã tranh thủ thời gian các nhà thầu tạm dừng thi công để trồng thêm rau màu. Ấy vậy mà khoai mì, đậu bún cứ xanh lên ngăn ngắt khiến không cảm thấy ảm đạm nhếch nhác như nhiều nơi bị giải tỏa mà ta vẫn thường thấy. Dân mình tài giỏi lắm! Chú năm Thu An thốt lên như vậy sau khi nghe tôi khen đậu ai trồng tốt quá bên tuần trà đang vui. Rồi ông bỗng ngập ngừng hồi tưởng pha chút tiếc nuối khó giấu diếm qua ánh mắt và giọng kể cứ từng lúc trầm xuống nghe bùi ngùi xa vắng. “Đồn Phong Nẫm không lớn...”.

“Nhưng cái đồn này nó ngặt lắm. Nếu xem cù lao An Hóa và cù lao Bảo là hai nửa của một cơ thể thì nó nằm ngay ở giữa xương sống. Đa số công tác giao thông liên lạc của ta đều phải đi ngang qua đây. Mà hồi xưa đất rộng người thưa, đồng trống mênh mông chớ đâu phải như bây giờ. Thế nên nhứt cử nhứt động gì của mình đều khó lòng lọt khỏi tầm quan sát của đối phương. Không thể để lâu hơn được nữa, phải nhổ nó thôi! Đó là chủ trương của Tỉnh ủy và Huyện ủy Giồng Trôm lúc bấy giờ”.

“Nhiều khi tôi cứ tự hỏi sao những người tài giỏi lại hay vắn phần vắn số. Không hiểu sao trước trận Phong Nẫm, không khí trận mạc nó lạ lùng lắm. Anh em người nào cũng hớn hở mừng vui khác thường. Sau này có dịp nhớ lại, như những lúc này đây mới thấy tâm lý con người ta hay những cái gì tương tự mà mình vẫn hay cho là tâm linh, nó vi diệu và sâu xa bí ẩn thế nào, thật khó để giải thích cho thật tường minh”.

“Bộ đội đặc công chúng tôi nếu đem so với chiều dài tuổi quân của dân tộc không phải là không đáng tự hào. Những Yết Kiêu, Quận He… đã từng viết nên những trang sử sáng ngời trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Nhưng anh em mình ở Bến Tre lúc bấy giờ còn ngây thơ vụng dại lắm. Thời thuộc Pháp cũng chỉ manh nha hoạt động le lói và lập được vài công trạng nhỏ. Như của anh “Mười Ma” mà dân gian còn truyền tụng cho tới sau này chẳng hạn. Anh đã lẻn vào tận hang ổ địch để “ăn cắp” súng đạn, y cụ về cho bộ đội Ông Cống”.

“Sau hòa bình lập lại năm năm tư, anh em đi tập kết nhiều lắm, số còn lại đếm được trên đầu ngón tay còn chưa hết. Ấy vậy mà bằng sự tận tụy, chăm chỉ, bằng quyết tâm ngay từ buổi đầu trứng nước sau Đồng khởi, chúng tôi đã làm được một số việc quan trọng”.

“Anh em cũng được chỉ dẫn, được học tập chớ. Cũng được rèn chỉnh chính trị, huấn luyện chuyên môn đợt này đợt nọ nhưng chú mày đừng tưởng chính quy hiện đại như đối phương hồi đó do sợ quá rồi la hoảng lên. Lầm chết! Như đợt một hồi đầu năm 1960 chỉ có 2 đồng chí, còn đợt hai chỉ có 3 đồng chí và phải qua tuốt bên Kiến Tường học ké với bạn. Vậy mà chừng trở về có đủ đâu! Lúc qua ngang Phú Phong bên Tiền Giang bị địch phục kích phải hy sinh hết 1 ”.

“Ối, chuyện chiến tranh mà! Thật ra chuyện xuất quỷ nhập thần của cánh đặc công mình cũng có chớ không phải là không, như mấy vụ của anh Mười Ma tôi vừa nói. Nhưng chỗ này chủ yếu là lòng dân, là sức dân, là kết quả công tác tuyên truyền của mình. Chính người dân đã vận động phụ thêm, thậm chí xuất phát từ trong hàng ngũ binh vận của mình nữa. Ở trong thành, thỉnh thoảng đối phương hốt hoảng lo sợ khi kháo nhau rằng hôm qua hôm kia tụi trinh sát với đặc công Việt Cộng nó vô tới đó… Còn có hay không chỉ có mình biết thôi. Bọn lính quanh các đồn cũng bị cái đòn đó ám ảnh khủng khiếp. Tội nghiệp, tụi nó có ăn ngủ gì được đâu”.

“Có quỷ gì đâu mà sợ lộ bí mật chú ơi! Hơn 50 năm rồi, giờ thì ai lại không biết. Mà dân mình lạ lắm, như thân gỗ súc dài ở trong nước, cứ đè đầu này lại nổi đầu kia lên, nên thiếu gì cách đánh mới hơn nữa nếu cần, chú đừng có sợ cứ viết huỵch toẹt ra đại đi. Ai ăn thịt ăn cá gì đâu mà lo!”…

Tôi rất yêu bài ca “Tôi yêu tiếng nước tôi” của nhạc sĩ Phạm Duy. Thỉnh thoảng tôi lại nghêu ngao kể cả hồi còn chưa được cho phép hát thoải mái. Nhưng thành thật mà nói cho tới khi tiếp xúc với đề tài này tôi mới thấy hết cái hay ho của bài ca. Dù không có khả năng “yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời” như nhạc sĩ đã sáng tác, nhưng hôm nay tôi phải tha thiết tri ơn tiền nhân đã cho mình được thừa hưởng cái gia tài tiếng nói mẹ đẻ đồ sộ này trăm ngàn lần. Thật may mắn cho tôi khi đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít, tôi có hàng chục cách để thể hiện. Chớ còn nếu chỉ “ai, quò, giơ, on” như ngôn ngữ của bạn bè các nước thì tôi chỉ có chết chớ không tài nào để phân biệt người này với người nọ người kia, và chắc chắn chuyện kể ra bạn cũng khó mà nắm bắt cho được, bởi nó rối còn hơn canh hẹ.

Bởi nửa thế kỷ trôi qua rồi, muốn gặp được người cần gặp đã khó. Gặp rồi ông thì nhớ trước quên sau, thậm chí lẫn lộn… khôn lường! Mình nhờ nhắc lại cho rõ ràng hơn trận đánh hai chục năm trước có lần nghe chính miệng ông đã kể ra nhưng bây giờ ông… “chối”, nói tao có nói hồi nào đâu, chắc mày nhớ lộn thằng nào rồi! Trời phật thánh thần ơi! Chưa kịp mừng đã khiến mình càng thêm lo, thêm sợ. Cái đầu liền thúc riết đôi chân nhanh lên, nhanh lên kẻo…! Ông thì lãng tai, cứ hả hả từng lúc; ông lại tai biến, đang nói chuyện với mình mà bụng dạ hồn vía cứ như bỏ đi du lịch tận đâu đâu, khiến đôi lúc mình không khỏi ngây thơ ngộ nhận, tự hỏi bộ đội bộ tịch gì đâu mà yếu nhớt vậy trời?!… Mỗi ông kể ra một khúc, muốn hiểu cho thấu đáo buộc phải “chạy bộ” kiểu như người ta hay đùa rằng phải chạy theo xe thông tin cổ động để ráp tin lại vậy! Thế nên, sau đây đã đến lúc không còn “tôi” kể nữa mà tới phiên “tao” rồi… Vậy nhen.

“Chỉ huy bộ đội hồi đó dễ lắm mày ơi! Nói gì tụi nó nghe nấy hà, chớ đâu có dám ý kiến ý cò như bây giờ. Nhứt hô bá ứng mà mậy! Hôm thực hành sa bàn ở Châu Bình về tao có hỏi anh em bên pháo vậy chớ thấy ngon ăn hôn tụi bây. Tụi nó hí hửng trả lời rổn rảng. Tới chừng bể bạc ra rồi mới thấy khác biệt một trời một vực! Ai đời cái đồn chần vần vậy mà bắn vô đâu chỉ được mấy trái, còn sau đó nó lại nhè vô đội hình mũi thứ yếu số 2 mà bắn! Mày coi vậy đó chịu đời nổi hôn?!”.

“Không, không bao giờ có chuyện đó đâu! Tại anh em mình hồi nào giờ chưa từng hiệp đồng binh chủng đánh cường tập, với lại anh em mới sử dụng pháo 75 ly lần đầu, thêm phần ban đêm ban hôm khó lấy phần tử trần thân! Trước đó, tụi tao chỉ quen đánh phục kích, đánh kỳ tập, tức là mạnh đơn vị thằng nào nấy đánh. Vậy mà sáng tạo ghê lắm, có khi việc xong rồi chính mình cũng thấy hay, thấy lạ. Mày hiểu chưa? Chớ hoàn toàn không có chuyện phản nghịch bậy bạ gì ở đây. Trước trận đánh tụi tao chắc ăn còn hơn “ba bó một giạ”, bởi đánh lẻ tụi tao còn bứng đồn ngọt sớt mà…”.

“Khai cuộc mà pháo nó bắn cái giọng đó là kể như giết đám đặc công trong hiệp đồng chiến đấu rồi còn mẹ gì! Nghe “trâu rống” trung đội đặc công đang áp sát đồn như mở cờ trong bụng liền lập tức luồn vô đánh phá rào mở cửa, nhưng lụp chụp trậm trầy trậm trật, điểm hỏa trái thì nổ trái thì không… Bởi hỏa lực địch có bị tiêu hao gì đâu nên trong đồn nó bắn ra như vãi trấu hổng bằng!”.

“Năm lớp rào! Anh em đặc công cứ thay phiên hết đợt này tới đợt khác ôm trái vô đánh nhưng không thể nào mở được. Sức đề kháng của địch càng tỏ ra có hiệu quả hơn. Quá sốt ruột, nhất là sau khi hay tin hai trung đội trưởng của 2 mũi thứ yếu một và hai đã bị thương và hy sinh. Mũi chủ công của đại đội bộ binh quyết định triển khai đội hình xung phong theo phương án tác chiến, dù diễn biến thế trận ban đầu hoàn toàn không được như ý, nếu không muốn nói là đã bị phá sản!”.

           (Còn tiếp)

Bút ký của Từ Phạm Hồng Hiên

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN