Bóng quê (kỳ 2)

06/03/2020 - 08:03

Phó tư lệnh quân giải phóng Nguyễn Thị Định gặp lại các nữ chiến sĩ “Đội quân tóc dài”. (Ảnh tư liệu)

Phó tư lệnh quân giải phóng Nguyễn Thị Định gặp lại các nữ chiến sĩ “Đội quân tóc dài”. (Ảnh tư liệu)

Các mẹ Việt Nam anh hùng

Còn nữa và còn nhiều nữa những người mẹ, người chị xứ Dừa dịu hiền, chân chất nhưng dũng cảm, ngoan cường, nhân hậu nhưng bất khuất vì Tổ quốc, vì nghĩa lớn. Mẹ Cao Thị Thơm có 7 con là liệt sĩ, gia đình mẹ Nguyễn Thị Đầy hiến dâng cho tổ quốc 10 liệt sĩ trong đó có 4 người được phong là anh hùng lực lượng vũ trang, gia đình mẹ có 3 thế hệ mẹ Việt Nam anh hùng. Mẹ Dương Thị Lan có công nuôi giấu cán bộ tham gia tiếp tế hậu cần đấu tranh chính trị, mẹ được cán bộ và nhân dân phong tặng với cái tên thân thương “Chính ủy hậu cần”. Chúng ta còn đó các nữ anh hùng khác như Thiếu úy trinh sát vũ trang Phan Thị Hồng Châu; y tá huyện Giồng Trôm Đoàn Thị E; chính trị viên đại đội đặc công Lê Thị Hồng; anh hùng lao động Tạ Thị Chung và còn biết bao người mẹ, người chị khác mà ta chưa tìm hiểu hết.

Nữ tướng Nguyễn Thị Định

Thật thiếu sót khi kể về tấm gương của các mẹ, các chị mà không nhắc đến vị tư lệnh tối cao của “Đội quân tóc dài” là bà Nguyễn Thị Định mà cán bộ, chiến sĩ và nhân dân thường gọi bà là cô Ba Định, chị Ba Định.

Là một cô gái xuất thân từ một gia đình nghèo ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, cô Ba sớm giác ngộ cách mạng qua sự giáo dục của gia đình. Ở tuổi 16, cô đã tham gia hoạt động cách mạng. Người phụ nữ dịu hiền, giản dị và dũng cảm ấy đã trải qua bao sóng gió của cuộc đời. Chồng bị giặc bắt và hy sinh nơi Côn Đảo, bản thân bị giặc đày đi Bà Rá, có người con duy nhất tập kết và chẳng may bị bệnh chết trên đất Bắc. Vượt qua mọi nghịch cảnh đau thương, được tôi luyện trong bão lửa cách mạng, cô đã trở thành người phụ nữ nhân từ, dũng cảm và quyết đoán luôn trung thành với Đảng, với nhân dân.

Năm 1946, cô Ba (lúc ấy 26 tuổi) đã lái thuyền mở đường ra miền Bắc để gặp Trung ương Đảng và Bác Hồ báo cáo tình hình những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp ở Khu 8. Cùng đi trên thuyền có các ông: thầy giáo Ca Văn Thỉnh, thầy thuốc Trần Hữu Nghiệp và ông Đào Văn Trường. Khi báo cáo xong, Trung ương đã giữ các ông ở lại miền Bắc và cô Ba được giao nhiệm vụ chở vũ khí, tài liệu và tiền bạc về Nam.

Nhạc sĩ Văn Cao lúc ấy là cán bộ công an được trên phân công đưa vũ khí xuống thuyền. Một chuyến vượt biển trở về Nam đầy gian khó, phải đương đầu với giông bão, sóng to gió lớn và vượt qua bao cam go với sự bố phòng canh gác nghiêm ngặt của địch, thế nhưng sau 5 ngày đêm thuyền cập bến an toàn và toàn bộ vũ khí, tài liệu, tiền bạc đã được giao cho ông Trần Văn Trà lúc ấy là khu bộ trưởng Khu 8. Sau Hiệp định Genève chuyển quân tập kết, cô Ba được bố trí ở lại miền Nam và tiếp tục đương đầu với cuộc đấu tranh đầy gian khổ bám cơ sở, bám dân hoạt động trong những ngày tháng có thể gọi là những ngày đen tối của cách mạng miền Nam.

Năm 1958, địch treo giải thưởng 10 nghìn đồng nếu ai chỉ bắt được Nguyễn Thị Định. Có một hôm cô về Phước Thạnh, huyện Châu Thành đang ở trong nhà một cơ sở cách mạng, địch đánh hơi phát hiện, chúng tung ra vây bắt. Trước tình thế như vậy, cô vội chui xuống hầm bí mật trong nhà, khi xuống hầm nước tràn lên ướt cả miệng hầm. cả bọn lính ập vào nhà. trong nhà cha mẹ đi vắng chỉ còn Nguyễn Thị Thành và một đứa em. lúc ấy Thành 13 tuổi, em đã nhanh trí đập bể nồi tấm heo khỏa lấp miệng hầm để che mắt giặc, thế là cô Ba đã thoát khỏi cuộc truy bắt của địch.

Vào tháng 1-1959, tại Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng lao động Việt Nam dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức cuộc họp lần thứ 15 bàn về đường lối cách mạng dân tộc ở miền Nam, sau này ta thường gọi Nghị quyết số 15. Đến tháng 11-1959, Xứ ủy Nam Kỳ tổ chức hội nghị triển khai Nghị quyết số 15 tại Trảng Chiên (Bắc Tây Ninh) rồi đến tháng 12-1959, liên Tỉnh ủy Nam Trung Bộ họp triển khai và xây dựng kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 15 tại Hồng Ngự. Cô Ba được Tỉnh ủy phân công đi tiếp thu và đến ngày 1-1-1960 đã triển khai Nghị quyết số 15 cho Tỉnh ủy ở khu vực cù lao Minh.

Ngày 2-1-1960, cô Ba tiếp tục triển khai Nghị quyết số 15 và kế hoạch nổi dậy cho cán bộ cốt cán để đúng ngày 17-1-1960 cuộc nổi dậy đã nổ ra tại Định Thủy rồi sau đó lan ra Bình Khánh, Phước Hiệp của huyện Mỏ Cày. Cô Ba cùng các đồng chí lúc bấy giờ đã lãnh đạo cuộc nổi dậy thành công và sau đó lan rộng khắp 3 cù lao ở Bến Tre.

Tháng 4-1960, cô Ba được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, rồi Khu ủy viên Khu 8, Hội trưởng Hội Phụ nữ giải phóng miền Nam; tháng 4-1970 làm Phó tư lệnh quân giải phóng miền Nam, sau đó được phong hàm thiếu tướng.

Sau giải phóng miền Nam, cô Ba còn giữ các chức vụ: Ủy viên Trung ương Đảng, đại biểu Quốc hội, Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước…

Cô Nguyễn Thị Định là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm với lòng nhân ái bao dung, giữa ý chí quyết liệt và sự mau nước mắt, giữa chất hùng của người lính xông pha nơi trận mạc với nữ tính dịu dàng.

Hỡi vong linh của các anh hùng liệt sĩ! Hỡi những người mẹ, người chị xứ dừa, cho tôi xin nghiêng mình nghìn lần tưởng nhớ các anh, chị đã để lại “bóng quê” che mát cho hôm nay và mai sau.

Vũ Hoàng

Chia sẻ bài viết
Từ khóa Bóng quê

BÌNH LUẬN