Chế tạo thành công hệ thống sơ chế cơm dừa

15/05/2019 - 07:21

BDK - Bến Tre là tỉnh có diện tích trồng dừa lớn nhất nước, chính vì vậy, các sản phẩm chế biến từ dừa rất phong phú và đa dạng. Hầu như toàn bộ cây dừa đều được tận dụng để làm ra các sản phẩm có giá trị tiêu thụ trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Theo định hướng phát triển, cây dừa là một trong 8 chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực của tỉnh.

Hệ thống cấp hơi và gia nhiệt sản phẩm.

Hệ thống cấp hơi và gia nhiệt sản phẩm.

Hệ thống cắt, tách gáo và làm sạch vỏ nâu

Thành phần của trái dừa gồm vỏ dừa, gáo dừa, cơm dừa, nước dừa được chế biến thành nhiều sản phẩm có giá trị khác nhau. Hiện nay, việc tách gáo, gọt vỏ nâu đều được thực hiện thủ công, tốn nhiều công lao động và tỷ lệ hao hụt cơm dừa khá nhiều. Để khắc phục nhược điểm trên, Sở Khoa học và Công nghệ đã đặt hàng Doanh nghiệp tư nhân Phương Nhi thực hiện đề tài “Nghiên cứu công nghệ và thiết kế chế tạo hệ thống thiết bị cắt, tách gáo và làm sạch vỏ nâu cơm dừa” nhằm cơ giới hóa một phần và giảm bớt công lao động cũng như hao hụt cơm dừa trong quá trình sơ chế. Tuy chưa hoàn toàn tự động hóa cả dây chuyền sản xuất nhưng phần nào đã giải quyết được những khó khăn hiện tại trong quá trình chế biến.

Trái dừa sau khi được tách xơ sẽ được cho vào hệ thống gia nhiệt bằng hơi nước bão hòa, mục đích để làm mất hoặc giảm liên kết cơm và gáo thông qua lớp vỏ nâu, giúp dễ dàng tách gáo hơn và giữ lại phần vỏ nâu trên gáo, giảm công làm sạch vỏ nâu cơm dừa, giảm hao hụt phần cơm dừa so với phương pháp gọt vỏ nâu thủ công. Kết quả của quá trình thử nghiệm đã chứng minh, với nhiệt độ tương ứng 100oC, thời gian từ 10 - 15 phút khi gia nhiệt bằng hơi nước bão hòa là tối ưu nhất, lớp vỏ nâu bị tách từ 20 - 95%, và việc tách gáo dễ dàng hơn nhiều so với tách thủ công. Độ tuổi dừa khi thu hoạch, thời gian bảo quản cũng ảnh hưởng đến kết quả này, dừa khô có độ tuổi trung bình (khô rám) và thời gian lưu trữ ngắn (khoảng 15 ngày sau thu hoạch) là xử lý có hiệu quả nhất. Năng suất của hệ thống là 2.000 trái/giờ.

Năng suất tăng gấp 3 lần

Dừa hột sau khi được xử lý nhiệt sẽ được để nguội tự nhiên và đưa đến thiết bị chặt hột, hột được cắt thành 2 nửa, nước được thu hồi qua máng hứng. Năng suất thiết bị cắt là 30 trái/phút. Hột dừa sau khi cắt sẽ được băng tải chuyển đến thùng chứa trung gian để thực hiện việc tách gáo. Vì đã được xử lý nên việc tách gáo rất dễ dàng và năng suất tăng lên 2 lần so với phương pháp thủ công, người thực hiện thao tác rất nhẹ nhàng, không mất sức lao động. Sau khi tách gáo nếu cơm dừa còn sót lại vỏ nâu sẽ được chuyển đến khâu làm sạch hoàn thiện bằng đĩa nhám. Tại đây, vỏ nâu sẽ được mài nhuyễn thành các hạt nhỏ để tạo thuận lợi cho công đoạn chế biến tiếp theo (ép tách chất béo, dầu, sấy khô) mà không cần phải xử lý lớp cơm dừa có chứa vỏ nâu lần nữa. Thiết bị làm sạch vỏ nâu này cho phép giảm tỷ lệ hao hụt so với làm sạch bằng phương pháp gọt thủ công.

Đây là hệ thống bán tự động nên vẫn cần nhân công vận hành. Với phương pháp thủ công cần 13 người để thực hiện các công đoạn, năng suất trung bình 4.800 trái/8 giờ. Với phương pháp mới này chỉ cần 7 người cho tất cả các công đoạn nhưng vẫn cho năng suất gấp 3 lần phương pháp cũ. Từ đó có thể thấy rõ hiệu quả kinh tế khi áp dụng hệ thống này. Việc áp dụng hệ thống trên còn giúp cho việc sơ chế, bảo quản sản phẩm an toàn, chất lượng.

Kết quả đề tài đã khắc phục phần nào những nhược điểm của khâu sơ chế mà trước nay đã được các cơ quan, ban ngành quan tâm. Đây là khâu xứng đáng đầu tư vì nó là công việc đầu tiên và không thể thiếu khi nghĩ đến bất kỳ sản phẩm nào từ cơm dừa, nước dừa. Chất lượng sản phẩm trong chuỗi có được nâng lên hay không cũng phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nguyên liệu khâu sơ chế. Đề tài đã từng bước đưa ngành dừa Bến Tre đi vào tự động hóa, cơ giới hóa trong tất cả các khâu chế biến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm.

Bích Lũy (Sở Khoa học và Công nghệ)

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN