Chỉ số Cải cách hành chính tỉnh Bến Tre năm 2018: Tăng 7 bậc trên bảng xếp hạng quốc gia

04/10/2019 - 07:36

BDK - Ban Chỉ đạo Cải cách hành chính của Chính phủ vừa công bố Chỉ số Cải cách hành chính (PAR INDEX) năm 2018 của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Theo đó, năm 2018, chỉ số CCHC tỉnh Bến Tre có sự hồi phục, tăng đạt 73,49%, được xếp vào nhóm C (các tỉnh có chỉ số từ 70 đến dưới 75%), nguyên nhân chính là tỉnh đã thực hiện các giải pháp nâng cao các chỉ số CCHC (Bản cam kết giữa lãnh đạo sở, ban, ngành tỉnh, UBND cấp huyện với Chủ tịch UBND tỉnh).

Mặc dù tăng 7 bậc so với năm 2017 (từ hạng 62/63 lên hạng 55/63), tuy nhiên, trong đó vẫn còn nhiều lĩnh vực, tiêu chí, tiêu chí thành phần còn bị giảm điểm so với năm 2017 hoặc bị Hội đồng thẩm định trừ điểm. Cụ thể:

Về chỉ đạo điều hành: Việc thực hiện chế độ báo cáo định kỳ: Chưa đảm bảo về thời gian theo quy định (Báo cáo CCHC năm trễ hạn 1 ngày); Kế hoạch CCHC, Kế hoạch tuyên truyền CCHC chưa cụ thể thời gian hoàn thành, chưa cụ thể từng sản phẩm đầu ra của các nhiệm vụ; Việc kiểm tra công tác CCHC: các đơn vị được kiểm tra có ban hành kế hoạch khắc phục theo đúng yêu cầu của đoàn kiểm tra CCHC, tuy nhiên các kế hoạch đều không nêu rõ thời gian hoàn thành, không có các văn bản chứng minh các vấn đề đã được xử lý; Sáng kiến CCHC: tỉnh có 4 sáng kiến CCHC nhưng không đáp ứng yêu cầu của Hội đồng thẩm định; Thực hiện các nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, tỉnh có 4 nhiệm vụ hoàn thành muộn so với thời hạn được giao.

Về xây dựng và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật tại tỉnh:  Việc xử lý kết quả theo dõi thi hành pháp luật: các đơn vị được kiểm tra không có kế hoạch và báo cáo kết quả khắc phục các hạn chế theo kết quả kiểm tra.

Về cải cách thủ tục hành chính (TTHC): UBND tỉnh ban hành Quyết định số 27/2018/QĐ-UBND ngày 5-6-2018 về việc quản lý sản xuất, kinh doanh, vận chuyển dừa giống trên địa bàn tỉnh Bến Tre có quy định thủ tục công nhận cây dừa mẹ dẫn đến tỉnh bị trừ điểm nhiều nội dung; Tỷ lệ cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã công khai TTHC đầy đủ, đúng quy định tại nơi tiếp nhận, giải quyết TTHC: vẫn còn trường hợp các huyện niêm yết chưa đầy đủ, kịp thời TTHC đúng theo quy định; Công khai tiến độ, kết quả giải quyết hồ sơ TTHC trên Cổng thông tin điện tử hoặc Cổng dịch vụ công của tỉnh: các sở, ngành, huyện, xã đều công khai rất ít hồ sơ đã tiếp nhận và giải quyết năm 2018; một số vẫn còn TTHC chưa thực hiện tại bộ phận một cửa.

Về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước: Thực hiện quy định về cơ cấu số lượng lãnh đạo tại các cơ quan hành chính, tỉnh vẫn còn tình trạng lãnh đạo nhiều hơn chuyên viên ở các cơ quan, đơn vị; Việc kiểm tra về quản lý, sử dụng, tuyển dụng công chức, viên chức và kiểm tra về công tác nội vụ được thực hiện đầy đủ, tuy nhiên các đơn vị được kiểm tra không xây dựng kế hoạch khắc phục các hạn chế và báo cáo khắc phục các hạn chế theo kết luận kiểm tra về Sở Nội vụ để theo dõi, báo cáo Bộ Nội vụ.

Về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức:  năm 2018 điểm số tăng mạnh đạt 11,16/13,5 (đạt 82,73% tỷ lệ cao nhất trong 5 năm qua), lần đầu tiên được xếp vào nhóm A. Được Bộ Nội vụ đánh giá là đơn vị có bước tiến ấn tượng nhất trên bảng xếp hạng của 63 địa phương. Tuy nhiên vẫn còn các nội dung tỉnh cần phải tiếp tục cố gắng thực hiện trong thời gian tới như: Chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính của cán bộ, công chức, viên chức: vẫn còn xảy ra các trường hợp bị xử lý kỷ luật trong năm; Tỷ lệ đạt chuẩn của công chức cấp xã, cán bộ cấp xã chưa đáp ứng được yêu cầu (100%).

Về cải cách tài chính công: Chưa ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng diện tích chuyên dùng theo quy định tại Nghị định số 152/2017/NĐ-CP; Số đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên: trong năm 2018 không có đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên tăng thêm; Tỷ lệ giảm chi trực tiếp ngân sách cho đơn vị sự nghiệp so với năm 2015: chưa có văn bản chứng minh được có giảm chi so với năm 2015; Tác động của cải cách đến quản lý tài chính công.

Về hiện đại hóa hành chính: Việc triển khai kiến trúc chính quyền điện tử ở tỉnh chưa được hội đồng thẩm định chỉ số CCHC công nhận; Hội đồng thẩm định cũng chưa đồng ý với tài liệu để kiểm chứng chức năng, tính năng kỹ thuật của Cổng dịch vụ công đáp ứng đầy đủ yêu cầu tại Quyết định số 1697/QĐ-BTTTT; Tỷ lệ TTHC cung cấp trực tuyến mức độ 3, 4 có phát sinh hồ sơ trong năm của tỉnh vẫn chưa đạt yêu cầu; hiện ở tỉnh vẫn chưa có TTHC xử lý trực tuyến mức độ 4; Việc duy trì, cải tiến ISO 9001 theo quy định, các cơ quan, đơn vị thực hiện đầy đủ.

Về tác động của CCHC đến người dân, tổ chức và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh: Đây là lĩnh vực mới trong bộ tiêu chí đánh giá chỉ số CCHC cấp tỉnh được thực hiện qua điều tra xã hội học. Nguyên nhân: Tỷ lệ doanh nghiệp thành lập mới trong năm ở tỉnh còn thấp, năm 2018, tỷ lệ doanh nghiệp tăng thêm dưới 10%; Thực hiện thu ngân sách hàng năm của tỉnh theo kế hoạch được Chính phủ giao năm 2018 chỉ vượt 3.78% dự toán của Bộ Tài chính giao, trường hợp vượt chỉ tiêu từ 5% trở lên sẽ được đánh giá là 1,5 điểm. Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh (SIPAS) chỉ đạt 10,44/12 điểm (năm 2017: 12/12 điểm).

Đăng Phong

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN