Chuyện kể ...

07/11/2018 - 08:18

Chuyện kể rằng: “Hồi xửa hồi xưa, ngoài đời khi có chuyện gì, người ta thường hay nói: Mấy người mần cái nghề nhựt trình coi vậy mà họ viết đâu đọc thấy có thật đó một trăm phần trăm, hổng có thêm mắm dặm muối như chuyện thiên hạ đồn rằng theo miệng thế gian đâu…”.

Còn ngày nay dân mình thì nói: “Chuyện gì xảy ra trên thế gian này hễ báo chí viết, đăng lên là hết chối cãi hè…”.

Buổi đầu mới về ở chung nhau, mấy vị lính cũ trong cơ quan báo chí hay “đọc chậm” với lính mới như tôi mọi điều như vậy.

Sau nhiều năm hoạt động trên chiến trường Bình Đại, làm cộng tác viên cho Báo Chiến Thắng, có gì viết nấy, chuyện lớn chuyện nhỏ gì cũng viết. Đến khi về làm phóng viên “mới ra ràng” của Báo Chiến Thắng, gặp anh Nguyễn Hồ, cán bộ biên tập báo, anh nói rằng:

- Em bé Tiền Phong, nó viết “búa xua bình tàng”, bài vở gửi về đây xài thì ít, bỏ thì nhiều. Sự kiện nêu lên thì hay, nhưng viết thì… dở quá…

Tới khi tôi quảy ba lô về làm chính thức của Báo Chiến Thắng, gặp anh Năm Thông, coi như chủ bút của báo lúc bấy giờ. Anh nói với tôi:

- Chú em mày chưa tới hai mươi tuổi, thuộc em út ở đây, trước giờ lấy bút danh là “Em bé Tiền Phong” bạn đọc của báo đều biết. Mai mốt đây, anh phân công em đi cơ sở để viết bài chuyên mục thiếu nhi. Làm phóng viên của báo khi đi sâu sát thực tế phải điều tra cho kỹ, sâu sát, chuyện gì có thì viết, không thì thôi, đừng thêm thắt này nọ cho rắc rối đó nghe…

Tới màn tôi đi thực tế đầu đời viết về chuyện du kích Thạnh Phú Đông, Phước Long, Tân Hào đánh bọn ngụy đi càn bằng chông, ong vò vẽ, lựu đạn gài; chuyện mấy em thiếu nhi xã Phong Mỹ, Phong Nẫm dẫn trâu mang bừa xuống ruộng sâu để bừa súng chiến lợi phẩm khi giặc đi càn thất trận bỏ lại… Bài nào tác giả cũng bê nguyên xi cho tròn trịa, không bỏ sót một chi tiết nào hết. Khi sửa bài, chủ bút Năm Thông dùng viết nguyên tử đỏ gạt bỏ “búa xua”. Tôi hơi nóng ruột hỏi: “Vậy mà anh biểu em phản ánh cho đúng sự thật, giờ anh gạt muốn hết rồi”.

Anh vuốt nhẹ vai tôi cho mát bụng:

- Viết báo là phải tôn trọng sự thật. Người đọc dễ hiểu và làm theo báo. Nhưng người viết phải tự gạt bỏ bớt những chi tiết mặc dù là thật, bỏ thấy uổng nhưng không cần thiết phải đưa vô đây, làm trọng tâm bài viết bị loãng…

Đúng là bài viết của tôi, kể cả của các anh chị khác sau khi anh gọt giũa trở thành bài hay thiệt.

Mỗi lần đi chiến dịch theo các vùng trọng điểm, tôi có dịp ở chung với anh Tư Sâm (tức nhà văn Văn Phụng Mỹ, Phạm Võ, Trang Thế Hy) dưới tàng dừa cạnh một trảng xê tránh bom pháo ở Tân Hào (Giồng Trôm). Anh là nhà văn thuộc đàn anh của các nhà văn khác. Anh về Bến Tre công tác. Hai anh em lúc rảnh rang lấy chiếc khăn rằn làm “nhá” (vó) thả xuống mương dừa bắt tép rồi tước cọng dừa lụi tép nướng, xong rồi lấy nắp bình toong thay ly uống rượu lai rai tâm sự cho vui. Anh thường nói với tôi:

- Chú em mày biết hôn, không riêng gì nghề báo, mà nghề viết văn bao giờ cũng phải tôn trọng sự thật, có vô số sự thật mà nhà văn dù có tài cách mấy cũng không tài nào hư cấu nổi bằng sự thật được.

Anh kể rằng: Có một nhà văn có tên tuổi quê ở Bến Tre mình, đi tập kết ở miền Bắc về. Ổng xưng ổng có tài hư cấu một trăm phần trăm mà người đọc coi y như thật. Ổng viết bài cả trăm trang đem đưa tôi coi. Ổng kể rằng ở Bến Tre khắp nẻo đường nông thôn, người dân đục vô thân cây dừa khắc nổi hình lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, sơn màu xanh, đỏ, ngôi sao vàng; cây thì khắc khẩu hiệu “Đả đảo Mỹ - Diệm”, cây thì khắc “Đả đảo tay sai bán nước Diệm - Nhu”… Những cây dừa như vậy càng ngày càng lớn, nâng khẩu hiệu càng cao vòi vọi. Đọc tới đây, anh lắc đầu nói với nhà văn: “Không phải vậy đâu bạn ơi. Đọc tới đây, người trồng dừa Bến Tre cười chết luôn đó”.

Xong anh cắt nghĩa cho nhà văn kia rành mạch rằng cây dừa mỗi lần lột bẹ là tàu dừa rụng xuống, lần lượt hết tàu này đến tàu khác, khoảng dừa rụng trước lần lượt già đi. Khẩu hiệu được đục khắc vô thân dừa vẫn ở mức như vậy chứ không cao thêm chút nào, lá cờ với khẩu hiệu vẫn ngang tầm mắt người đi đường. Riêng tụi giặc ráp nhau đứng coi, nó tức muốn ói máu, không biết làm sao. Còn cây dừa vẫn sống nhăn, cho trái quanh năm. Sau khi anh góp ý, vị nhà văn hỏi thêm vài chủ vườn dừa, ai cũng khen nhà văn Trang Thế Hy nói phải. Sau đó, tác giả tự phá sản bài viết của mình.

Mỗi khi nghe tin Bến Tre thêm một chiến công nào đó, anh sôi nổi kể chuyện rằng:

- Đất Bến Tre quê mình quả là huyền bí. Nhiều nơi trong nước đánh giặc bằng cách này cách khác nhưng nơi nào cũng phục cách đánh giặc bằng du kích của Bến Tre. Giặc xua quân càn quét đến bất cứ nơi nào trên ba dải cù lao này cũng đều mang xác về bởi cách đánh giặc bằng súng ngựa trời, lựu đạn gài, bắn lựu đạn bằng giàn thu, ong vò vẽ, mang ênh, chông hầm, chông đòn, chông ngạnh, chông bãi, chông hom… Nông dân, thanh niên, phụ nữ, thiếu nhi đều đánh được giặc bằng cách này cách khác bằng cách tự suy nghĩ, sáng tạo của mình. Ai đời có anh nông dân nọ ở Giồng Trôm tự mình dàn trận địa dài khoảng trăm thước, khi giặc lọt vào ổ phục kích, anh tự tay điều khiển cho dàn mang ênh phóng trước, kế đó một hình nộm bật dậy khỏi mặt đất giật tung dãy lựu đạn gài, tên giặc nào thoát khỏi co giò phóng qua hai bên đều bị lọt xuống hầm chông. Giặc mang xác xuống tàu vì thua trận mà không biết thua ai, bộ đội hay du kích…

Rồi một chuyện nữa, anh say sưa kể. Có bác nông dân ở Mỏ Cày tập tành ổ ong vò vẽ cho quen. Khi có giặc càn quét, bác di chuyển ổ ong theo ý mình để chặn đầu giặc khi chúng lọt vào xã chiến đấu, bác giật dây xua “đoàn quân ong vò vẽ” của bác phủ đầu chúng. Xong rồi bác đưa ổ ong về chỗ cũ.

Anh nói: Chuyện đánh giặc hết Pháp tới Mỹ của quê hương Bến Tre mình kể hoài không hết. Cái nghề làm báo như chú em mày dù tay nghề non yếu gì đi nữa mà cứ điều tra cho kỹ, viết cho đầy đủ từng chuyện thật thì nó vẫn hay vì cốt chuyện đã hay rồi.

Sau mỗi lần kết thúc chiến dịch tấn công địch, trở về cơ quan xin ý kiến ban biên tập về chuyện viết bài kỷ niệm đợt này đợt kia, các anh Chí Nhân, Tổng quan Ban Tuyên huấn cùng anh Năm Thông, Trưởng ban biên tập báo vẫn nói:

- Chú em mày cứ bám trọng tâm chính trị mà viết bài tới tấp đi. Viết cho nhanh, cho kịp thời với “thời tiết”, chính trị là được. Còn ở nhà lên ma-kết báo để đăng bài gì là có tụi này lo.

Vậy rồi rủ nhau tát mương kiếm cá tép về làm mồi lai rai với vài bình toong rồi chia tay đi tiếp. Nhiệm vụ của tôi thời buổi đầu từ năm 1963 chuyên viết về đề tài thiếu nhi với bút danh “Em bé Tiền Phong” do các anh trong ban biên tập đặt cho. Khi “hết thời” làm em bé, tôi trở thành phóng viên chiến trường, chuyên đi chiến dịch, kể cả tham gia tác chiến với quân đội, với du kích vành đai diệt Mỹ. Mỗi lần vượt lộ, băng sông đi chiến dịch đều có cánh anh Hồng, Diếp, Mười Trung (sau giải phóng làm Giám đốc Trường Đảng tỉnh Bến Tre) thay phiên nhau mang máy điện đài cùng đi. Mỗi khi có tin tức, bài vở thời sự là điện ngay về cơ quan, cả Đài Phát thanh giải phóng.

Vượt qua những tháng năm đầy khó khăn, gian khổ và hy sinh trên chiến trường Bến Tre, song, người làm báo Chiến Thắng (Đồng Khởi) của tỉnh nhà vẫn ung dung, vững vàng với tay súng, tay viết của mình, luôn luôn ghi đậm chiến công xứng đáng là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng của quê hương xứ Dừa.

Nhà báo Tiền Phong

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN