Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học (kỳ 2)

29/05/2020 - 06:56

Sản phẩm phân vi sinh do Trung tâm KH&CN sản xuất. Ảnh: K.Tuyền

Sản phẩm phân vi sinh do Trung tâm KH&CN sản xuất. Ảnh: K.Tuyền

Ứng dụng trong chăn nuôi

Về giống vật nuôi thực hiện chương trình chăn nuôi vịt biển thích nghi với điều kiện chăn nuôi trên cạn, nước mặn, biến đổi khí hậu. Du nhập và xây dựng mô hình gà đông tảo thuần và gà đông tảo lai với giống gà tàu vàng thích nghi tại tỉnh đạt hiệu quả tốt. Đã phát triển hệ thống thụ tinh nhân tạo cho heo, bò mở rộng toàn tỉnh; so sánh con lai F1 giữa các giống bò Brahman, Red Angus, lai Sind trên đàn bò nền địa phương...

Đối với nuôi trồng thủy sản hoàn thiện quy trình sản xuất nghêu giống chủ động được giống nghêu; nuôi vỗ đàn cá tra được cải tạo di truyền thành cá tra bố mẹ chọn lọc và phát triển đàn cá tra có chất lượng cao. Giống cá được sản xuất từ đàn cá bố mẹ này ít bệnh, lớn nhanh, có chất lượng thịt tốt đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu. Cải tiến quy trình sản xuất giống cua biển nhân tạo, ương và nuôi giống tôm càng xanh toàn đực từ nguồn giống nhân tạo bằng kỹ thuật vi phẫu. Nuôi xen canh tôm càng xanh - lúa. Cải tiến quy trình ương tôm thẻ chân trắng theo hướng an toàn sinh học. Sử dụng công nghệ sinh học (CNSH) phân tử PCR để xác định bệnh tôm trong sản xuất tôm giống và chọn giống tôm sạch bệnh được triển khai áp dụng. Toàn tỉnh có 26 cơ sở sản xuất giống, nuôi thủy sản thương phẩm áp dụng thực hành nuôi trồng thủy sản tốt theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, ASC, BAP, AquaGAP và MSC với tổng diện tích 7.780,2ha.

Ngoài ra, thông qua nghiên cứu và phát triển công nghệ đã tạo ra dòng sản phẩm từ chất thải đặc thù của địa phương như phân vi sinh (từ hạt nhãn), giá thể mụn dừa, phân hữu cơ sinh học HCSH-MD-01, phân hữu cơ HCVS-MD-02 và phân HC-khoáng-MD-03 từ mụn dừa; phân hữu cơ và thức ăn cho bò từ vỏ trái ca cao. Ứng dụng và nhân rộng chế phẩm E.M trong xử lý môi trường và nuôi trồng thủy sản được đẩy mạnh. Sử dụng các chế phẩm sinh học để xử lý chất thải gây ô nhiễm ngay tại bãi rác, ao nuôi thủy sản, chăn nuôi heo, bò, gà.

Phát triển công nghệ sinh học

Đội ngũ cán bộ kỹ thuật có chuyên ngành sinh học và làm việc trong lĩnh vực CNSH của tỉnh từng bước được tăng cường về số lượng và chất lượng. Các trung tâm, các trạm, trại, phòng kiểm nghiệm được đầu tư, trang thiết bị theo hướng hiện đại hóa: ngành thủy sản đã trang bị và ứng dụng kỹ thuật PCR và Real time PCR trong xét nghiệm bệnh tôm; phòng kiểm nghiệm sinh học và ứng dụng phương pháp ELISA để kiểm tra hàm lượng Chloramphenicol và Nitrofuran có trong nguyên liệu và thành phẩm thủy sản; phòng kiểm nghiệm xác định tính đồng dạng di truyền của dòng cam xoàn, sầu riêng, măng cụt, chẩn đoán bệnh vàng lá Greening và một số cây ăn trái đặc sản.

Trong thời gian qua, tỉnh đã đầu tư cho Trung tâm Khoa học và Công nghệ, Phòng Nuôi cấy mô, Phòng Giống và dây chuyền sản xuất nấm và Phòng Thí nghiệm sinh học phân tử đã được đầu tư 90% máy móc thiết bị (máy PCR, máy li tâm, chụp hình gel…) nhằm phục vụ cho ứng dụng và phát triển CNSH. Ngoài ra, tỉnh cũng đã đầu tư 13,776 tỷ đồng (giai đoạn 1) xây dựng Khu ứng dụng công nghệ sinh học Cái Mơn nhằm tạo cơ sở vật chất, nhân lực đáp ứng tốt những nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ thuộc lĩnh vực CNSH vào trong sản xuất, đời sống.  

Thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển

Việc ứng dụng và phát triển CNSH đã đóng góp thiết thực và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp, y tế, bảo vệ môi trường và một số lĩnh vực khác. Nhiều công trình nghiên cứu cơ bản đáp ứng yêu cầu xã hội; nội dung và kết quả nghiên cứu mang tính ứng dụng và phổ biến cao như: ứng dụng sinh học phân tử trong chọn giống cây trồng, vật nuôi; nhân nhanh giống cây trồng bằng công nghệ inviro; chẩn đoán các bệnh cho cây trồng, vật nuôi và con người. Ngoài ra, việc ứng dụng kỹ thuật CNSH đã tạo ra nhiều loại chế phẩm, sinh phẩm có hoạt lực tốt phục vụ cho ngành nông nghiệp, y tế, môi trường.

Với tiến bộ kỹ thuật trong nuôi cấy mô, tỉnh có thể sản xuất một số loại giống sạch bệnh, sinh trưởng tốt như: lan, hoa chuông, hoa dạ yên thảo, hoa cúc, chuối tiêu... Thông qua việc thực hiện các đề tài dự án, Trung tâm Khoa học và Công nghệ đã nhân giống và cung cấp hơn 20 ngàn cây chuối nuôi cấy mô ra thị trường đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ. Với kỹ thuật sinh học phân tử, việc chẩn đoán các bệnh trên tôm, cây trồng (bệnh greening...) được áp dụng rộng rãi tại các phòng thí nghiệm của các đơn vị trong tỉnh, góp phần hạn chế dịch bệnh và thiệt hại về vật chất cho nông dân.

Đặng Văn Cử

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN