Đi lên từ những con đường (kỳ 1)

04/10/2019 - 07:38

BDK - Từ năm 2000, Bến Tre làm cuộc Đồng khởi mới đầu tư phát triển đường giao thông từ thành thị đến nông thôn. Thành quả phát triển giao thông đã làm thay da đổi thịt xứ Dừa vốn nghèo khó, giao thông đi lại khó khăn, đi lên giàu đẹp.

Khánh thành cầu thứ 2.173 do Hội Khoa học kỹ thuật cầu đường thiết kế xây dựng. Ảnh: T. Nhã

Khánh thành cầu thứ 2.173 do Hội Khoa học kỹ thuật cầu đường thiết kế xây dựng. Ảnh: T. Nhã

Chung sức chung lòng

Bến Tre có ba dải cù lao với nhiều sông rạch chằng chịt. Giao thông nông thôn (GTNT) ở những năm 1980 như hình tượng trong câu hát:      

“Ví dầu cầu ván đóng đinh

Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi...”

Ngày ấy, ở Bến Tre việc đi lại bằng đường bộ hết sức khó khăn. Ba dải cù lao chưa được nối liền nhau, đi Bình Đại, Mỏ Cày, Thạnh Phú, Chợ Lách phải qua phà. Đường tỉnh lộ xuống cấp hư hỏng, nhiều ổ gà, ổ voi... từ tỉnh đi huyện một ngày về không kịp.

Đường GTNT lúc bấy giờ phần lớn là đường đất, cầu qua sông, rạch là cầu khỉ, dùng cây gỗ tạm bợ để làm cầu. Những nơi sông rạch lớn cách trở, người dân qua lại bằng chiếc xuồng, ghe nhỏ mong manh.

Về các vùng nông thôn, đi xe đạp gặp trời mưa, phải cõng xe hoặc dùng cây cạy đất nhão bám dính hai bánh xe... trẻ em đi học, trời mưa áo quần lấm lem bùn đất. Nhiều em bỏ học khi chưa vào cấp 3 trung học phổ thông vì trường xa, đường đi vất vả.

Đường bộ khó đi như vậy nên người dân ở quê đưa nông sản ra chợ bán hết sức khó khăn vất vả. Vào những năm này, Bến Tre bị xếp vào những tỉnh trong top nghèo có hạng ở đồng bằng sông Cửu Long.

Bị liệt vào tỉnh nghèo, người Bến Tre ở trong tỉnh hay đi làm ăn, công tác ngoài tỉnh đều cảm thấy mặc cảm và lãnh đạo tỉnh cũng thấy tự ái khi nghe nói tỉnh mình là nghèo!

Không thể để người dân ở nông thôn khó khăn mãi về giao thông mà không vươn lên thoát nghèo được, người viết bài này còn nhớ vào năm 2000, ông Huỳnh Văn Be là Chủ tịch UBND tỉnh đã phát động một cuộc Đồng khởi mới làm đường GTNT, làm đường ra biển, đường giao thông ô tô đến tận UBND xã. Làm 1.500km GTNT trải nhựa hoặc đường bê-tông với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”.

Lúc này, dân cư ở nông thôn còn nghèo, ngân sách tỉnh hạn hẹp, chủ trương làm đường của Chủ tịch UBND tỉnh bị cho là liều nhưng khi thăm dò ý dân với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, người dân rất đồng tình, nhiều địa phương người dân tự nguyện hiến đất với diện tích lớn rồi cùng nhau đóp góp kinh phí, ngày công làm đường qua ấp, thôn xóm họ.

Phong trào người dân đóng góp làm đường GTNT rất sôi nổi, khởi đầu là xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, sau đó lan ra các xã của huyện và các địa phương khác trong tỉnh. Ở Quới Sơn, người dân hiến đất, đóng góp chi phí và ngày công làm đường. Có những con lộ, dân cư đóng góp 100%.

Ở ấp Tiên Phú 1, xã Tiên Long, huyện Châu Thành hình thành Ban kiến thiết dân lập do ông Lê Văn On (Tám On) phụ trách, đứng ra khảo sát, lập dự án và bàn với tổ, xóm làm đường GTNT. Những cầu lớn, nhờ Hội Khoa học kỹ thuật cầu đường (KHKTCĐ) tỉnh thiết kế, tính toán chi phí, dân đóng góp. Dân cư ở ấp Tiên Phú 1 hưởng ứng rất tích cực, nhà vườn hiến đất, hoa màu, góp tiền, ngày công làm đường GTNT. Ông Lê Văn On cho biết: “Ngày làm đường, thanh niên, lão nông, phụ nữ đều “ra trận”, nam làm việc nặng, phụ nữ làm hậu cần, lo cơm nước, bánh trái cho lực lượng lao động làm đường rất đông vui”.

Sau huyện Châu Thành, người dân ở các huyện khác hưởng ứng đóng góp làm đường cũng không kém. Tỉnh đã có 1.500km đường GTNT mà không phải đền bù mét đất nào. Nếu bồi thường đúng giá trị đất, mấy chục năm nữa tỉnh cũng chưa làm được 1.500km đường này. Ông Huỳnh Văn Be đã trả lời báo chí như vậy.

Cây cầu của vạn tấm lòng

Người đem vạn tấm lòng góp sức làm cầu lộ và đồng hành với dân trong  “chiến dịch” làm đường GTNT là ông Trịnh Văn Y (Mai Sơn) - nguyên Phó chủ tịch UBND tỉnh. Ông về hưu năm 2001, rảnh việc nước, ông về thăm bà con, đồng đội, chiến trường xưa… ở những làng quê nông thôn, ông cảm nhận bà con mình còn quá nhiều thiệt thòi. Cầu đường còn tạm bợ, đi lại hết sức khó khăn. Qua lại sông lớn là đò ngang, mưa bão hết sức nguy hiểm. Năm nào cũng có người té cầu, chìm đò chết…

Ông thấy mình còn nợ dân rất lớn. Làng quê xa xôi hẻo lánh là nơi đã từng bảo bọc ông và căn cứ cách mạng. 15 năm kháng chiến, nhiều lần ông suýt chết nếu không có sự chở che của người dân nơi đây. Sau giải phóng miền Nam ít lâu, ông làm Phó chủ tịch UBND tỉnh. Lúc đương nhiệm, ông hiểu rằng, đồng lương mình nhận hàng tháng là của dân, ông chưa thấy hài lòng trong đền đáp công sức mà người dân dành cho ông và cách mạng. Càng thâm nhập nơi vùng sâu, ông càng hiểu đời sống người dân nông thôn còn nhiều khó khăn bởi chiến tranh tàn phá nặng nề, đường giao thông cách trở bởi nhiều sông, rạch. Trẻ em đi học phải qua cầu khỉ, đò ngang. Người lớn lúc bệnh nặng phải khiêng võng ra lộ lớn. Hàng nông sản ở các làng quê khi mang ra chợ bán, hết sức vất vả khó khăn... Nhưng việc làm cầu đường ở nông thôn, chờ kinh phí Nhà nước còn dài, không biết đến bao giờ người dân quê mới hết cảnh cầu khỉ, đò ngang. Nay, ông thấy mình về hưu rồi, còn sức khỏe, phải tiếp tục làm việc giúp dân. Việc xây dựng cầu đường cho nông thôn là bức xúc. Vận động tổ chức, cá nhân hỗ trợ kinh phí làm cầu, đường là thiết thực nhất. Ông nói: Xây cầu, đường ở nông thôn không chỉ an toàn đi lại mà còn là “cần câu” phát triển kinh tế, làm cho nông thôn đổi mới…

Làm giao thông nông thôn ấp Tiên Phú, xã Tiên Long (Châu Thành). Ảnh: T.Nhã

Làm giao thông nông thôn ấp Tiên Phú, xã Tiên Long (Châu Thành). Ảnh: T.Nhã

Mang ý tưởng vận động nguồn vốn cộng đồng làm cầu, đường cho nông thôn, ông đề nghị lãnh đạo tỉnh thành lập Hội KHKTCĐ. Đề nghị của ông được tỉnh đồng ý ngay và hội chính thức được thành lập vào năm 2001, là Hội KHKTCĐ cầu đường đầu tiên ở đồng bằng sông Cửu Long. Hội không đơn thuần về nghề nghiệp mà mang tính xã hội rộng rãi. Hội vận động phát triển hội viên, không chỉ là những kỹ sư cầu đường, cơ khí, xây dựng, thủy lợi mà còn là những người nhiệt tình với việc xây cầu, làm đường GTNT. Những hội viên không chuyên về kỹ thuật người là chủ tịch, phó chủ tịch UBND huyện, chủ tịch, phó chủ tịch UBND xã, là nông dân bình thường, nhà tu… họ tích cực vận động vốn xây cầu, làm đường và còn biết nơi nào bức xúc nhất cần làm trước.

Hội KHKTCĐ hoạt động thiện nguyện, vận động tổ chức, cá nhân đóng góp làm cầu đường GTNT, không sử dụng ngân sách nhà nước. Khi vận động mỗi công trình cầu GTNT, hội đều có khảo sát, làm dự án, bảng thiết kế cụ thể. Kinh phí xây cầu vận động được giao cho huyện hoặc xã. Hội không lập quỹ cũng như đội thi công. Trung tâm kỹ thuật cầu đường của hội thiết kế xây dựng cầu không tính chi phí. Kinh phí vận động xây cầu thường là 50, 70 đến 90%, tùy theo tình hình kinh tế nơi của dân cư nơi cầu được xây, phần chi phí xây cầu còn lại do dân cư đóng góp, để người dân có trách nhiệm quản lý kinh phí và chất lượng cầu đường dành cho họ. Khi hoàn thành cây cầu nào, đều có bảng lưu niệm ghi tên nhà tài trợ, nên việc vận động khá thuận lợi.

Khi vận động tổ chức, cá nhân giúp kinh phí làm cầu, đường, hội chủ trương không ngại khó, không mắc cỡ mà tinh thần vận động là lo cho dân sớm có cầu lộ. Ông đã vận động các tổ chức kinh tế tỉnh nhà, các cơ quan trong kháng chiến ở trong dân được dân Bến Tre che chở cưu mang, các tổ chức từ thiện, các Việt kiều, các tổ chức xã hội từ thiện của Việt kiều, các đại sứ quán, các tôn giáo, vận động qua các vị lãnh đạo trung ương là người Bến Tre nhờ nói giúp các tổ chức kinh tế … Ông vận động nhiều nơi và được tài trợ nhiều công trình nên lúc bấy giờ nhiều người gọi ông là “Kẻ ăn xin tầm cỡ” với lòng kính trọng, nể phục. Còn người dân nông thôn rất thương kính ông và gọi ông một cách thân thương là ông Hai Cầu Đường. Ở nông thôn còn có nhiều người cảm kích khi nghe thấy ông xả thân đi xin tiền về làm những cây cầu, con lộ thì đã thốt lên tấm lòng tôn kính của họ: “Ông Hai cầu đường là vị thánh, trời đưa xuống giúp dân mình”.

Bằng tấm lòng đền ơn đáp nghĩa với dân, năm 2010, Hội KHKTCĐ tỉnh đã hoàn thành cây cầu thứ 1.000 (cầu Lịch Sử ở xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú) chào mừng 1.000 năm Thăng Long Hà Nội và đến tháng 8-2019, hội đã hoàn thành 303km GTNT và xây cầu bê-tông thứ 2.230, trong đó cầu thứ 2.120 chào mừng 120 năm Bến Tre thành lập tỉnh và kỷ niệm 60 năm Bến Tre Đồng khởi.

Song song với xây cầu làm lộ, Hội KHKT cầu đường tỉnh còn có chương trình duy tu bảo trì cầu đường, hướng dẫn các địa phương kỹ thuật bảo trì, sửa chữa cầu đường xuống cấp để sử dụng được lâu dài.

Ông Trịnh Văn Y cho biết: Sáng kiến vận động các tổ chức, cá nhân đóng góp kinh phí xây cầu của Hội KHKTCĐ tỉnh do ông đề xuất cho đến nay vẫn được UBND tỉnh đánh giá là sáng kiến thi đua vô địch và Bộ Giao thông vận tải nhận xét là cả nước chưa có hội KHKTCĐ nào hoạt động hiệu quả như ở Bến Tre.

Ông Trịnh Văn Y được Nhà nước phong tặng Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới vào năm 2009.

Lư Thế Nhã

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN