Nghĩa vụ trả lại tài sản của người nhận giữ tài sản

12/04/2020 - 18:43

Ông Nguyễn Chí Bằng (Giồng Trôm) có nhu cầu tư vấn: Tôi với ông A là chỗ quen biết. Cách đây 6 tháng, tôi có mua 10 tấn lúa và gửi ông A giữ, hẹn khi nào cần sẽ bán. Tôi trả tiền công cho ông A 100 ngàn đồng/tháng. Cuối tháng 2-2020, tôi điện thoại cho ông A nói muốn bán số lúa đã gửi nhưng ông A khuyên tôi đừng bán vì lúa chưa có giá. Khi đến nhà ông A thì mới biết ông đã bán hết lúa mà tôi đã gửi. Tôi đòi lúa thì ông A cứ hẹn mà không trả. Xin hỏi, tôi có phải trả tiền công cho ông A không; nếu muốn khởi kiện ông A thì tôi phải làm sao?

Thắc mắc của ông được luật sư Võ Tấn Thành (Đoàn Luật sư Bến Tre) tư vấn như sau:

- Theo quy định tại Điều 554 của Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015, hợp đồng gửi giữ tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên. Theo đó, bên giữ nhận tài sản của bên gửi để bảo quản và trả lại tài sản đó cho bên giữ khi hết thời hạn hợp đồng; bên gửi phải trả tiền công cho bên giữ, trừ trường hợp gửi giữ không phải trả tiền công.

Điều 559 BLDS năm 2015 quy định về trả lại tài sản gửi giữ:

“1. Bên giữ phải trả lại chính tài sản đã nhận và cả hoa lợi nếu có, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Bên giữ phải trả lại tài sản đúng thời hạn và chỉ có quyền yêu cầu bên gửi lấy lại tài sản trước thời hạn, nếu có lý do chính đáng”.

Mặt khác, tại Khoản 4, Điều 557 BLDS năm 2015 quy định về nghĩa vụ của bên giữ tài sản: “Phải bồi thường thiệt hại nếu làm mất mát, hư hỏng tài sản gửi giữ, trừ trường hợp bất khả kháng”.

Như vậy, việc ông gửi 10 tấn lúa cho ông A giữ, đến khi nào cần ông sẽ bán. Tuy nhiên, đến khi cần bán thì ông A đã bán hết số lúa trên, ông A có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ số lúa mà ông đã gửi giữ.

Về tiền công, ông phải trả đủ tiền công cho ông A khi lấy lại tài sản gửi giữ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (theo quy định tại Khoản 1, Điều 561 BLDS năm 2015).

Trường hợp giữa ông và ông A không tự thỏa thuận giải quyết được với nhau, thì ông có quyền làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân cấp huyện (nơi ông A cư trú) để yêu cầu giải quyết về việc “Tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản”.

- Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về hình thức, nội dung đơn khởi kiện như sau:

“1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện phải làm đơn khởi kiện.

2. Việc làm đơn khởi kiện của cá nhân được thực hiện như sau:

a. Cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện, trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, cá nhân đó phải ký tên hoặc điểm chỉ.

4. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây.

a. Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

b. Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;

c. Tên, nơi cư trú của người khởi kiện;

d. Tên, nơi cư trú của người có quyền lợi ích được bảo vệ (nếu có);

đ. Tên, nơi cư trú của người bị kiện;

e. Tên, nơi cư trú của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;

g. Quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm;

h. Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu có);

i. Danh mục, tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện.

5. Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm”.

Huỳnh Trâm (thực hiện)

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN