Ông già Thạnh Phú

24/01/2019 - 22:22

Thi thoảng, chúng ta cũng hay bắt gặp các cụ bậc “lão nông tri điền” Nam Bộ bên chung trà chén rượu vẫn nhắc về khí chất lẫm liệt bất khuất của ông già Ba Tri với lòng cảm phục và tự hào. Đôi khi cảm hứng các cụ còn sướng lên: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm - Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” (của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu). Còn chuyện tôi sắp kể ra đây là ông già Thạnh Phú: bình dị mà can trường, góp phần làm nên điều kỳ diệu của quê hương.

Ông Lê Công Cẩn - Năm Công (người thứ 5, trái sang) chụp tại cồn Rừng nhân chuyến về thăm cơ sở của cựu chiến binh Đoàn 962 (năm 1985). Ảnh tư liệu

Ông Lê Công Cẩn - Năm Công (người thứ 5, trái sang) chụp tại cồn Rừng nhân chuyến về thăm cơ sở của cựu chiến binh Đoàn 962 (năm 1985). Ảnh tư liệu

Năm 1965, căn cứ bộ phận hậu cần của Đoàn 962, nằm trong cánh rừng đước cổ thụ của bên bờ tả ngạn sông Rạch Gốc, thuộc xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

Tổ quân trang trực thuộc bộ phận hậu cần này. Tôi cũng theo mẹ và các cô quân trang dọn về khi căn cứ vừa mới xây xong còn thơm mùi lá dừa nước. Hàng loạt căn nhà xinh xinh nối nhau bởi những nhịp cầu đước vừa lột vỏ đỏ au.

Mới vừa cột dây xuồng bước lên ngôi nhà đầu, tôi thấy một lão nông ốm cao mà quắc thước trong chiếc áo bà ba nhuộm pin đèn và chiếc quần đùi mốc cời. Ông đang hì hụi dưới một gốc đước to cả ôm thằng nhỏ như tôi. Một hồi sau, dưới bộ rễ nước tua tủa như chân nôm, ông lôi ra con cua kình lửa chừng hơn một kí-lô-gam, cặp càng đỏ rực như lửa vươn ra oai vệ. Nhưng rồi bằng mấy động tác thuần phục như múa, ông đưa cọng lạc dừa trói chặt nó lại. Máng con cua vừa mới bắt chung vào chùm cua cả chục con, ông cười hì hì: “Cua rộng đây mà. Bữa nay bắt lên đãi khách”.

Tôi làm “môn đệ” nghề bắt cua của ông bằng sự ngạc nhiên và sự tò mò ban đầu như vậy đó. Mấy ngày sau tôi mới biết ông là chỉ huy ở đây. Nhưng ông đôn hậu dễ gần, dễ mến lắm. Cả cơ quan mấy chục người, chỉ có tôi là thằng nhóc lon ton hay chuyền trang đước chọc phá cá thòi lòi, ba khía và bắt còng gió. Mến ông nên tôi cứ đến nhóm lửa, nấu nước cho ông pha trà. Ngậm điếu thuốc vồng Mỏ Cày tàn trắng như phau, bưng ly trà nóng, mắt ông như sáng lên và hay mở đầu bằng câu: “Ở ngoài Thạnh Phú, Bến Tre…”

Hễ tới con nước kén (mồng mười hay hai mươi lăm âm lịch) là tôi theo ông móc cua. Việc của tôi là xách cua, đuổi muỗi và quấn thuốc rê khi ông cần. Và cái nghề móc cua biển thuần thục trong tôi mà tôi không hay. Bởi mỗi bữa bắt cua là tôi có thêm bài học mới.

Vừa đi ông vừa nhấn nhấn bàn chân lên đất vừa dạy tôi: “Đất lún cỡ này chắc mẫm cua nhiều, còn mặt đất khò ra hay lầy lội, kiếm một con đỏ con mắt”. Người ta bắt cua bằng cần móc sắt. Còn ông chọn cây đước có chẵn ba đẽo thành cần móc. Ông nói mấy người xài cần móc sắt hễ cua kẹp là bỏ càng, hết ngon, đem bán cũng mất giá. Còn cần móc cây thì không, cua cứ tưởng rễ đước kẹp hoài. Hễ bắt xong con cua, trói lại, máng lên nhánh cây, ông lại cho tay vào trong hang cạo hết lớp bùn non nhão, lượm từng ngoe cua ra, xoa miệng hang láng bóng. Ông chắc mẻm: “Con nước sau tới đây mình thấy dấu là lôi đầu ra con cua khác.  Có chừng chục hang cua quanh nhà như vầy đâu sợ cực ăn hén con”. Tôi ngớ người, thì ra bữa đầu ông nói bắt cua rộng đãi khách là vậy.

Ông còn là thầy dạy chữ. Đêm đêm bên ngọn đèn dầu, bếp un tỏa khói quanh sàn ông dạy học cho cả đơn vị gồm nhiều lớp khác nhau. Toán thì học theo từng nhóm, còn chính tả ông đọc cho viết chung. Sau buổi học chan hòa thân ái, ông ngồi lại kể chuyện về những tấm gương anh dũng kiên cường của xứ dừa Đồng khởi, chuyện anh hùng Phan Đình Giót, La Văn Cầu của Chiến dịch Điện Biên Phủ… Mọi người im phăng phắc như nuốt từng lời ông kể…

Rồi chiến tranh mỗi ngày thêm ác liệt. Bom tấn, pháo bầy, hóa chất độc của Mỹ trút xuống làm hoang tàn rừng đước thân yêu. Cũng trong năm 1965, Mỹ cho B52 rải thảm xuống xóm làng Rạch Gốc, hàng vạn tấn bom cướp đi cả chục mạng người vô tội.

Một hôm mẹ tôi mắt đỏ hoe, nói với mấy cô chú trong đơn vị: “Ở ngoài Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, máy bay B57 của Mỹ bỏ bom nhà anh Năm không còn gì, chị Năm cũng chết trong đợt bom đó. Mấy đứa nhỏ bây giờ nheo nhóc, vắng cha thiếu mẹ”.

Rừng đước Thạnh Phú. Ảnh: Cẩm Trúc

Rừng đước Thạnh Phú. Ảnh: Cẩm Trúc

Tôi vẫn đến nấu nước pha trà cho ông, còn ông vẫn ngậm điếu thuốc vồng Mỏ Cày, tay bưng ly trà nóng, vẫn mở đầu “Ngoài đó… Thạnh Phú… Bến Tre…” nhưng ánh mắt thì rười rượi xa xăm.

Một ngày không lâu sau đó ông được chuyển công tác về đơn vị khác.

Còn tôi, ngày ngày thơ thẩn nhớ bác Năm, ông già Thạnh Phú, ông thầy dạy chữ và cả dạy bắt cua… Rồi tôi cũng ra đi, xa cánh rừng bao phủ con rạch nhỏ với những cây đước già, bộ rễ xù xì, nơi có những hang cua kình lửa… Tôi leo lên cây đước cổ thụ nhất máng cần móc cua bác Năm cho, để rồi ngoái đầu nhìn lại rặng đước xa dần sau mỗi nhịp chèo đưa.

Chuyện kỷ niệm của tôi và những hiểu biết về ông già Thạnh Phú tưởng chỉ ngắn ngủi là vậy. Nhưng không…

Hơn hai mươi năm sau, một cơ may đến với tôi: Được tham gia biên soạn lịch sử Đoàn 962 - đơn vị bến phục vụ đoàn tàu Không số của đường Hồ Chí Minh trên biển (đảm trách các bến từ mũi Cà Mau đến Bà Rịa - Vũng Tàu). Khi xem bản thảo tôi sửng sốt khi nhìn thấy bức ảnh có bác Năm trong đó, với dòng chú thích: “Người thứ năm từ trái sang: Đồng chí Lê Công Cẩn (Năm Công), Chi ủy viên xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú được phân công làm thuyền trưởng kiêm chính trị viên chuyến tàu thứ hai ra Bắc xin chi viện vũ khí cho miền Nam đánh Mỹ. Tàu xuất phát lúc 16 giờ ngày 19-8-1961 tại Cồn Lợi, xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, Bến Tre lúc giông to gió lớn, mây đen bao phủ...

Ơi bác Năm, ơi ông già Thạnh Phú....

Cà Mau cuối đông 2018

Nguyễn Bé Ngân Phương

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN