Kỷ niệm 105 năm ngày sinh đồng chí Huỳnh Tấn Phát (15-2-1913 - 15-2-2018)

Tài năng, đức độ, nhân cách của Huỳnh Tấn Phát

14/02/2018 - 18:38
Lễ trao giải thưởng Hồ Chí Minh cho đồng chí Huỳnh Tấn Phát. (Ảnh tư liệu)

Huỳnh Tấn Phát sinh ngày 15-2-1913 và lớn lên tại làng Châu Phú Hưng, tổng Hòa Quới, quận Bình Đại, tỉnh Mỹ Tho, nay là xã Châu Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre([1]) trong một gia đình yêu nước và quê hương giàu truyền thống cách mạng.

Những người từng sống, gắn bó với Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát - nguyên Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam, Phó thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, đều mến phục ông với cái tên gọi thân thương: Tám Chí.

Vùng đất địa linh nhân kiệt

Bến Tre là vùng đất nông nghiệp ven cửa biển, ven sông, cách đây hơn 300 năm còn là vùng sình lầy, rừng rậm hoang vu, những lưu dân người Việt từ miền Bắc, miền Trung trong quá trình khai hoang mở cõi đã vào vùng đất phương Nam lập nghiệp; trong đó, có vùng đất Châu Hưng (Bình Đại, Bến Tre). Đứng vững trước thử thách của thiên nhiên, bằng công sức lao động sản xuất - chiến đấu, bằng niềm tin và ý chí tự lực tự cường để tồn tại và phát triển là nét nổi bật nhất, dấu ấn sâu đậm nhất trong lịch sử khai hoang và tính cách của các thế hệ cư dân trên đất cù lao Bến Tre nói chung và cù lao An Hóa này. Người dân Bến Tre nói chung, Châu Hưng nói riêng chất phác, hiền hòa, lại siêng năng, cần cù, lao động sáng tạo… từ xa xưa đã biết đào mương, lên liếp, lập vườn, cấy lúa, trồng cây… xây dựng nên làng xóm yên vui, cây lành, trái ngọt… góp phần tạo dựng nên nền văn hóa miệt vườn phong phú và đa dạng.

Quê hương và con người Bến Tre có truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm, hiếu học, trọng nghĩa tình - là vùng địa linh nhân kiệt. Từ truyền thống yêu nước, yêu quê hương, trong trào lưu chống ngoại xâm thời cận đại cũng như thời hiện đại, nơi đây đã sản sinh ra nhiều phong trào đấu tranh, nhiều danh nhân cho quê hương, đất nước như Phan Thanh Giản, Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng, Trương Vĩnh Ký, Phan Văn Trị… là nơi hội tụ của nhiều bậc trí thức tài hoa dù không phải sinh ra nhưng đã chọn vùng đất Bến Tre để hoạt động và làm nơi yên nghỉ cuối cùng như: Nhà giáo Võ Trường Toản; nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu. Ngay từ khi thực dân Pháp đặt chân đến vùng đất cù lao Bến Tre đã gặp phải sự kháng cự quyết liệt của nhân dân, tiêu biểu như các cuộc khởi nghĩa của Phan Liêm, Phan Tôn, Phan Ngọc Tòng, Tán Kế… Riêng ở Châu Hưng, Bình Đại người ta thường nhắc tới đó là Trịnh Viết Bàng, ông Tô, ông Kiểu… người xã Định Trung, Huỳnh Văn Thiệu người xã Châu Hưng, những người thuộc thế hệ chống Pháp đầu tiên khi chúng đặt chân đến vùng lục tỉnh. Huỳnh Văn Thiệu (là ông cố của Huỳnh Tấn Phát) từng là bộ tướng của nghĩa quân Trương Định. Năm 1864, căn cứ Tân Hòa thất thủ, chủ tướng hy sinh, ông cùng số người thân tín trở về Châu Hưng tổ chức nghĩa quân chống giặc. Ít lâu sau, do kẻ gian mật báo, giặc Pháp bắt ông đem xử trảm ở Bàu Sấu. Trong cuộc khởi nghĩa của Thủ Khoa Huân, nhiều gia đình, kể cả những nhà hào phú, tới người thợ thủ công, người nông dân nghèo khổ… trên cù lao An Hóa, trong đó có nhân dân làng Châu Hưng đã góp công, góp của không hề nhỏ.

Để trừng phạt nhân dân những làng giúp đỡ Thủ Khoa Huân, ngày 5-7-1875, Thống đốc Nam Kỳ ký một bản lệnh buộc 11 làng phải nộp phạt từ 500 phờ răng, 1.000 đến 3.000 phờ răng (lúc bấy giờ 1 đồng bạc Đông Dương bằng 2,5 phờ răng, tương đương 1 giạ lúa). Những cuộc nổi dậy chống Pháp kể trên đã tóm lược những nét hào hùng của mảnh đất Bến Tre nói chung, Châu Hưng, Bình Đại nói riêng đặc trưng bởi những con người giàu nghị lực và truyền thống đấu tranh bất khuất.

 Huỳnh Tấn Phát sinh ra trong giai đoạn thoái trào cách mạng, đất nước ở vào thế phẳng lặng tạm thời. Biết bao cuộc nổi dậy từ Trương Định, Thủ Khoa Huân, Phan Tôn, Phan Liêm… ở Nam Bộ, đến các phong trào Văn Thân, Cần Vương rồi phong trào Duy Tân, Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục… tất cả đều chưa đi đến thành công. Nhiệt tâm yêu nước của các sĩ phu đứng trước bao ngã rẻ. Tuổi niên thiếu của Huỳnh Tấn Phát đã có cái đau của cảnh nước mất nhà tan và cũng có được niềm tự hào trước những cuộc nổi dậy chống Pháp liên tiếp nổ ra ở địa phương và trên khắp 3 dãy cù lao An Hóa, cù lao Bảo, cù lao Minh - Bến Tre của các bậc tiền bối.

Được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương

Sinh trưởng trong gia đình viên chức nhỏ, ông cố là một võ tướng, ông nội Huỳnh Văn Lâu là một hương chủ, cha, mẹ là những người nông dân chân chất, một gia đình mẫu mực nhân từ, được người dân kính trọng. Khi vào tuổi đến trường, Huỳnh Tấn Phát được người cậu tên là Quảng Duy Thơ đưa vào học tại trường dòng Lassan Tabert, sau đó thi đậu học bổng Trường College de Mỹ Tho. Ở trường, ông thường tiếp xúc với những bạn bè có chí hướng cách mạng.

Trong bản lý lịch Đảng của ông còn lưu trữ ông đã ghi: “Khi còn là học sinh Trường Trung học Mỹ Tho, những hoạt động bí mật của anh Phạm Hùng, treo cờ búa liềm trong sân bóng, truyền đơn để dưới gối mỗi giường ngủ, dưới các thau rửa mặt… đã in vào trí óc tôi và cảnh khủng bố tàn khóc của địch năm 1930 ở Cai Lậy đã làm tôi rất xúc động và bắt đầu nhen nhóm trong tôi ý thức cách mạng”. Sau 4 năm, Huỳnh Tấn Phát tốt nghiệp Ban thành chung (tức trung học đệ nhất câp tại Trường College de Mỹ Tho, nay là trường phổ thông trung học Nguyễn Đình Chiểu) và được cấp học bổng lên trường Lycé Pétrus Ký ở Sài Gòn (nay là Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, TP. Hồ Chí Minh) - một trường lớn ở Nam Kỳ thời ấy. Tại Sài Gòn, ông gặp lại người chú ruột là Huỳnh Văn Phương (du học sinh tại Pháp nhưng năm 1930 vì tham gia cuộc biểu tình ủng hộ Nguyễn Thái Học nên bị bọn thực dân trục xuất về Việt Nam).

Huỳnh Văn Phương vừa là một luật sư vừa là một nhà báo có tư tưởng tiến bộ. Huỳnh Tấn Phát thường xuyên lui tới nhà người chú, được chú dẫn dắt, chỉ bảo và được đọc những sách báo “cấm” từ Pháp chuyển về. Chính từ đây, Huỳnh Tấn Phát mở rộng tầm nhìn của mình rộng hơn, xa hơn góp phần nâng cao tâm hồn của một học sinh bậc trung học vượt lên trên ý thức hệ giai cấp xuất thân của mình.

Huỳnh Tấn Phát đến Sài Gòn vào thời kỳ thực dân Pháp đang tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ II. Nhiều nhà máy cũ mở rộng quy mô, nhiều nhà máy mới được xây dựng, đội ngũ công nhân ngày càng đông thêm. Sài Gòn có khu sang trọng của người Pháp, khu thương mại nhộn nhịp đa số là người Hoa… xóm nhà lá của dân nghèo thành thị. Bọn Tây đầm, quan lại ở thành phố, chủ nhà máy sống phè phởn. Giới công nhân làm việc cực nhọc sau giờ tan tầm từng tốp người lếch thếch ở cổng nhà máy ra về. Cuộc sống cơ cực, bần hàn, lầm than của đồng bào quê hương ông, những cảnh trái ngược mà ông từng chứng kiến đã gợi lên trong ông nhiều điều suy nghĩ về dân tộc, về quê hương, đất nước. Mùa hè năm 1933, sau 3 năm học tại Trường Pétrus Ký, Huỳnh Tấn Phát đã xong Ban tú tài, sau đó ông theo học Trường Cao đẳng Mỹ Thuật Đông Dương, Khoa Kiến trúc tại Hà Nội. Tại đây, ông được đọc nhiều báo chí, cả báo tiếng Việt và báo tiếng Pháp và từ đây ông bắt đầu viết báo.

Năm 1938, tốt nghiệp kiến trúc sư về Sài Gòn, Huỳnh Tấn Phát hành nghề tập sự tại văn phòng luật sư người Pháp Chauchon theo luật đương thời. Sau một thời gian tập sự, ông mở văn phòng luật sư riêng tại 68-70 Mayer. Nhưng chí hướng của người kiến trúc sư trẻ tuổi không vì mục đích làm giàu, nên văn phòng ấy chính là nơi lui tới, hội họp của sinh viên, trí thức yêu nước của Sài Gòn. Trong Tổng hội sinh viên Đông Dương (AGED) vào những năm 40 trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tên tuổi Huỳnh Tấn Phát nổi lên trong lớp trí thức đàn anh. Tuần báo Thanh niên (1944) do ông làm chủ nhiệm trở thành cơ quan ngôn luận của giới trí thức trẻ. Huỳnh Tấn Phát được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 3-1945, tham gia cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Sài Gòn và được cử làm Phó giám đốc Sở Thông tin báo chí của UBND Nam Bộ. Cũng từ đây, ông dấn thân vào con đường hoạt động cách mạng chuyên nghiệp.

“Than hồng nhen thành lửa ngọn”

Khi quân Pháp chiếm lại Sài Gòn, Huỳnh Tấn Phát bị chúng bắt giam tại Khám lớn Sài Gòn. Bà Bùi Thị Nga - vợ của ông, người đã lo toan công việc gia đình, động viên ông toàn tâm, toàn ý hoạt động cách mạng, nhờ giỏi tiếng Pháp nên bà thuyết phục được hai luật sư Bazé và Morétteau làm giấy giúp bà được thăm nuôi vừa cung cấp tin tức bên ngoài và tài liệu cho ông mở những lớp chính trị đào tạo cán bộ cho cuộc kháng chiến sau này. Ra tù, sau 2 năm bị giam cầm, Huỳnh Tấn Phát tiếp tục hoạt động ở nội thành đến năm 1949 mới ra chiến khu công tác cho đến cuối đời.

Trong quá trình hoạt động cách mạng, Huỳnh Tấn Phát từng giữ các chức vụ cao của Chính phủ, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ông là đại biểu Quốc hội các khóa I, II, III, IV, VI, VII, VIII. Do công lao về thành tích đối với cách mạng, Huỳnh Tấn Phát đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Kháng chiến hạng I, Huân chương Chống Mỹ hạng I, Huy chương “Vì sự nghiệp Đại đoàn kết”. Điều đáng nói ở đây không phải ở chỗ chức vụ, danh vọng, vị trí xã hội mà ông đã đạt được mà là tấm lòng, nhân cách, đức độ, tác phong sống của một người trí thức chân chính, người trí thức cách mạng.

Nhà văn Thép Mới, trong một bài viết sau khi Huỳnh Tấn Phát qua đời, có nhận xét: “Phong thái anh không lẫn với ai khác được. Anh đã sống nhiều năm ở vùng tam giác sắt, không khác gì hết các chiến sĩ, đồng bào. Lính trẻ Củ Chi chịu anh tình thương lính tráng. Cô bác Phú Hòa Đông, Nhuận Đức quý anh như bạn, như người cao tuổi trong gia đình. Ai cũng trọng anh, nhưng không ai coi anh là nhân sĩ, Anh là người vận động cụ thể, tổ chức cụ thể, chăm lo thể hiện những chủ trương cụ thể về công tác Mặt trận và vận động trí thức ở thành. Anh đã là anh rồi nên không nghĩ đến cá nhân nhiều… Cái cách anh quan hệ, ứng xử với các bạn trí thức đến với cách mạng cũng có những nét riêng. Anh không hùng biện, không sắc cạnh, không bắt ai phục mình. Ánh sáng là ánh sáng chung của cuộc đời. Tự anh không phát sáng, nhưng anh biết làm cho “than hồng nhen thành lửa ngọn”. Anh thuyết phục họ bằng chính con người anh, một con người Sài Gòn lẻ ra có thể sống ít nhiều vương giả lắm chứ, nếu muốn. Vậy mà anh dấn thân trường kỳ, dấn thân đến cùng, sống cách mạng một cách chân thật, tự nhiên, trong trẻo” ([2]).

Có thể khẳng định rằng: tấm gương sáng, tình yêu với đất nước với nhân dân của Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát được nhen nhóm từ truyền thống yêu nước, văn hóa, tình yêu quê hương, làng xóm, gia đình thân thuộc, những người thân và mãnh đất chôn nhau cắt rốn đã thổi bùng ngọn lửa cách mạng trong anh. Hay nói cách khác, chính truyền thống văn hóa, yêu nước của quê hương và gia đình đã tạo nên tài năng, đức độ, nhân cách của Huỳnh Tấn Phát.


[1] Ngày 16-6-1954, chia làng Châu Phú Hưng thuộc quận Bình Đại, tỉnh Mỹ Tho thành hai làng: Phú Thuận, Châu Hưng (là địa phận hai làng Châu Hưng và Tân Phú Hưng cũ) theo Nghị định số 2236 CAB/DAA của Thủ hiến Nam Việt.

[2] Báo Nhân dân, số 14-10-1989

 

BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY BẾN TRE

Chia sẻ bài viết
Từ khóa Huỳnh Tấn Phát

BÌNH LUẬN