“Chim vịt kêu chiều” của Nguyễn Thảo Nguyên

26/02/2012 - 15:57

Với mười truyện ngắn, từ “Huyền thoại viên ngọc đất” (12-1990) đến “Nợ rừng” (tháng 8-2011), Nguyễn Thảo Nguyên đã có 22 năm gắn bó với nghiệp cầm bút và hơn thời gian ấy vài năm nghề dạy học.

Có thể là hơi khập khiễng, nhưng tôi vẫn muốn mượn câu “văn tức là người” của Buýp-phôn, nhà phong cách học người Pháp, khi nói về tập truyện và con người của Nguyễn Thảo Nguyên (Nguyễn Văn Sang) mà tôi và bạn bè sống chung, làm việc chung với anh rất mến yêu và kính trọng.

Vâng, các độc giả có thể hình dung con người và tính cách anh Sang qua những trang văn của anh. Vóc người thanh thanh, nho nhã, nói năng nhỏ nhẹ, cẩn thận và cư xử khá chu đáo với bạn bè. Khi viết những dòng này, thốt nhiên tôi lại nhớ đến Lý Hà Thao, người bạn văn đã mất.

Ở đây, khi đọc lướt qua rồi đọc kỹ lại những truyện ngắn trong “Chim vịt kêu chiều” (*), tôi có được những suy nghĩ rất riêng mà có thể là rất chung vì sẽ có người đồng cảm, chia sẻ những suy nghĩ của tôi khi đọc các truyện này.

Cảm giác đầu tiên là sự lâng lâng, nhẹ nhàng lan tỏa vào tâm hồn người đọc, nhẹ rung động như khi chiều xuống nghe xôn xao ngoài bãi tiếng “chim vịt kêu chiều”. “Chim vịt kêu chiều” là một truyện ngắn hay viết về gia đình và những nỗi đau quặn lòng với số kiếp lênh đênh, sự cam chịu của những người phụ nữ rất yêu chồng, yêu con và sẵn sàng hy sinh vì họ, phải nói là cả tấm lòng nhân đạo rất Việt Nam.

Có lẽ là phong cách sống của một giáo chức đã len lỏi vào trong các ngõ ngách tâm hồn của tác giả, từ những trang viết cho đến cách nghĩ, cách đặt và giải quyết vấn đề.

Phải nói rằng, kết thúc có hậu là mô-típ quen thuộc của cốt truyện trong cách xây dựng truyện của Nguyễn Thảo Nguyên. Theo sự suy nghĩ, suy luận của riêng tôi, hiện tượng này có trong tập truyện ngắn “Chim vịt kêu chiều” là hoàn toàn đúng, vì nó bộc lộ được phong cách sống, những suy nghĩ về lối sống, về cuộc đời, đặc biệt là truyện của anh kết cấu được dàn xếp theo cách hướng về tính chân-thiện-mỹ, thể hiện cái cần có, nên có hơn là cái luôn có trong cuộc đời. Ngoài ra, “văn tức là người”, Nguyễn Thảo Nguyên không chịu nổi sự chia xa, cách biệt cả đời, kết thúc có hậu là cách chọn lựa của anh đằng sau mỗi câu chuyện. Có chê, có khen thì tùy người đọc, vì đó là quyền của người thưởng thức, là cán cân của công lý, là lương tri của con người. Còn việc kết thúc truyện đẹp, ngọt ngào, một người bạn thích đọc truyện, bảo với tôi rằng, đó cũng là một lối đi, và đời cũng cần như thế.

Thần thoại, huyền thoại, chuyện xưa là một kiểu mô-típ quen thuộc trong truyện của Nguyễn Thảo Nguyên. Đọc lối kết cấu này, tôi bất chợt nhớ đến đoạn nói về truyện dân gian của nhân dân ta, trong đoạn thơ của trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm:

“Rằng cô Tấm sẽ về làm hoàng hậu

Cây khế kia có phượng hoàng đến đậu

Chim ăn rồi trả ngon ngọt cho ta

Đất khô cằn thì người lại nở hoa

Hoa của đất và người làm ra đất”.

Có thể truyện ngắn “Huyền thoại viên ngọc đất” mà nhiều người đọc đã khen ngợi là tiêu biểu cho khuynh hướng của anh Nguyễn Thảo Nguyên.

Hình ảnh vị thần đầu tóc bạc phơ bước đến cạnh Đặng Bá và nói:

“Ta chính là thần đất cai quản lâu đời ở đây. Thấy con và người làng chịu khó, biết đồng lòng giúp đỡ lẫn nhau, động lòng ta muốn giúp các con. Ta sẽ tặng các con viên ngọc đất. Viên ngọc kết tinh từ linh khí ngàn năm, có tác dụng đuổi được tà khí và thú dữ. Các con hãy sử dụng nó cho việc nghĩa chung nhưng các con cần nhớ rằng chỉ khi nào những điều thiện nghĩa các con còn giữ được, thì viên ngọc mới còn tồn tại và có giá trị. Trái lại, nếu các con để cho những điều ác và sự tham lam, ích kỷ chế ngự, linh khí sẽ tan đi và không còn giá trị nữa”

(“Huyền thoại viên ngọc đất” - Tr. 109).

Chính vì viên ngọc đất có linh khí và độc đáo như thế, nên Đặng Bá không dám giao cho ai trong ba người con. Bởi vì:

“Người con cả - Đặng Hà - lễ nghĩa, kín đáo nhưng tính tình bảo thủ, độc đoán. Người con thứ - Đặng Thừa - có tài, can đảm nhưng tính tình khắc khổ. Riêng cậu trai út - Đặng Nam - hào phóng, thích giao du, giỏi thu phục nhưng lễ nghĩa có phần yếu kém hơn hai anh”.

(“Huyền thoại viên ngọc đất” - tr. 110).

Sau khi ông Đặng Bá mất, ba người con đã để cho chiến tranh huynh đệ tương tàn. Ai cũng đào bới, tìm lại viên ngọc quý, nhưng họ có hiểu đâu. Cái linh khí của viên ngọc thần đã tan vào trong đất. Chỉ có thể có lại khi mà thù oán, tranh chấp, tham lam, độc ác được hòa giải và đó là điều rất khó.

Nếu cần đưa ra điểm yếu của tập truyện ngắn “Chim vịt kêu chiều” của Nguyễn Thảo Nguyên, thì tôi xin nói rất thật và rất thành tâm: Đọc hết mười truyện, chúng ta không thấy cái mới, cho dù truyện khá hay và lôi cuốn. Thậm chí, có truyện như “Một nửa lời nguyền” (tr. 148 - tr. 159) in đậm dấu vết truyện kiếm hiệp, có mối tình: Đoàn Nam Đế với Anh Cô. Nhưng như tôi đã nói, “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, là lời cụ Tiên Điền thiết nghĩ dùng để nói chỗ này cũng là rất đúng.

Có điều vụn vặt mà tôi vẫn có chút băn khoăn:

Một là, chẳng biết do người viết sắp xếp hay do biên tập, các truyện được đặt ở vị trí rất lộn xộn, mà tôi không đoán ra dụng ý.

Hai là, thêm (?) hay bớt (?) một chữ nhưng là chữ rất quan trọng, làm thay đổi tứ của truyện ngắn. Đó là: “Huyền thoại về viên ngọc đất” (tr.106) hay “Huyền thoại viên ngọc đất (tr.171).

Tất nhiên, sơ sót là điều không thể tránh khỏi, nhưng ở chỗ này, sơ sót có ảnh hưởng đến nội dung tác phẩm, lại là tác phẩm hay thì là không nên.

Cuối cùng, chúng tôi, những người ham thích đọc báo, xem và nghe đài Bến Tre, đọc báo Đồng Khởi, rất tâm đắc về vấn đề phát huy thể loại nghị luận, đồng chí Hà Thanh Niên - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy đã nhắc nhở: “Muốn có nhiều bài nghị luận trên báo, đài của tỉnh và ngày càng nhiều bài có chất lượng tốt phải có nhiều người viết nghị luận. Trước hết, các nhà báo trong Ban Biên tập Báo Đồng Khởi, Đài Phát thanh - Truyền hình Bến Tre phải là người viết nghị luận và là người viết nghị luận ngày càng giỏi”.

(Bài đăng trên đặc san Thông tin và Truyền thông của Sở Thông tin và Truyền thông Bến Tre, tr.6: “Phát huy thể loại nghị luận trên báo, đài tỉnh”).

Đó chính là động lực thúc đẩy tôi viết những bài phê bình, nghiên cứu gởi về Báo Đồng Khởi, tiếng nói của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bến Tre.

(*) NXB Hội Nhà văn, năm 2011

Nguyễn Văn Lượng

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN