Cân phân kinh tế - môi trường

22/05/2009 - 08:48
Mô hình biogas phát điện của hộ ông Trần Văn Tr. chưa đạt hiệu quả.

Theo số liệu báo cáo về tình hình ô nhiễm môi trường trên lĩnh vực chăn nuôi heo của Phòng Tài nguyên và Môi trường năm 2008, huyện Mỏ Cày có trên 15.000 hộ chăn nuôi (khoảng 200 hộ chăn nuôi quy mô trang trại) với tổng đàn heo gần 140.000 con, tức có khoảng 200 tấn chất thải rắn và 15.000m3 nước thải cần phải xử lý. Tuy nhiên, qua đăng ký và nghiệm thu mô hình, toàn huyện mới chỉ có 31 mô hình biogas phát điện, 52 mô hình biogas nuôi trùn quế. Qua kết quả kiểm tra năm 2008, huyện đã tiến hành lập biên bản 269 cơ sở chăn nuôi và 7 cơ sở giết mổ gây ô nhiễm.

Chăn nuôi được xác định  là ngành kinh tế chủ lực của hai huyện Mỏ Cày Nam và Mỏ Cày Bắc góp phần phát triển kinh tế. Tuy nhiên, sau hiệu quả kinh tế đó, vấn đề môi trường cũng cần được quan tâm. Vậy mà, hiện nay, chưa mấy người làm kinh tế nói chung và chăn nuôi nói riêng thực hiện tốt mối quan tâm này.

Chúng tôi theo chân anh cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mỏ Cày Nam đến tham quan một vài cơ sở chăn nuôi với quy mô trang trại đã có xử lý chất thải bằng mô hình biogas. Đầu tiên là cơ sở ông Tạ Văn T (Thành Thới B). Ông áp dụng mô hình biogas nuôi trùn quế để xử lý khối lượng chất thải của đàn heo từ 500 đến 1000 con. Điều đầu tiên khiến tôi ngạc nhiên là họ có thể chịu đựng được mùi phân heo hàng ngày khi ngôi nhà ở của ông chỉ cách trại heo vài bước, khu chứa phân khô nằm ngay bên hông bếp ăn. Bước qua con mương nhỏ phía sau nhà là 20 hầm xử lý, đường kính khoảng 1,6m/hầm và một nhà chứa phân khô cũng vừa được xây cất chưa sử dụng. Còn trước giờ cơ sở vẫn bán phân khô lại cho người làm vườn làm phân hữu cơ. Nước thải từ các chuồng heo tràn ứ cả một khoảng sân sau vườn – nơi đặt các hầm biogas với diện tích gần 1.000m2. Có nghĩa là mô hình biogas nuôi trùn quế của ông T chỉ mới đạt phân nửa.

Anh cán bộ đi cùng chúng tôi bảo, có lẽ cơ sở ông T muốn mở rộng quy mô, nên đã san lấp 4 cái ao còn lại trong vườn, làm cho nước thải tràn ngập vô tư. Lâu ngày, mưa xuống, mùi hôi lại bốc lên, ruồi nhặng bu bám, chim – gà bươi xới trên bãi bùn nhão. Tất cả các tác nhân này sẽ mang mầm bệnh ngược về chuồng trại và phát tán quanh ra môi trường chung quanh.

Ở cơ sở chăn nuôi áp dụng mô hình xử lý chất thải bằng biogas phát điện, ông Trần Văn Tr. cho biết từ khi thiết kế mô hình này, gia đình ông khỏi tốn củi lửa, hay mua gas hàng tháng, thậm chí còn có thể cho nhiều người trong xóm dùng chung. Còn phân khô, ông dùng bón cho khoảng 1ha vườn dừa, mỗi tháng 1 lần. Nhưng chất thải còn tràn ứ ra ngoài miệng hầm trước trại chăn nuôi là câu hỏi đầu tiên tôi đặt cho ông Tr.  Trước đó mô hình biogas phát điện của cơ sở này được đánh giá là xây dựng đúng quy cách, mang lại hiệu quả khá tốt, hạn chế sự ô nhiễm của chất thải ra môi trường, nhưng với giá heo hiện nay đang trên dưới 4 triệu đồng/tạ, người nuôi heo có thể thu lời từ 800 ngàn đồng đến trên 1 triệu đồng/con heo thịt, nên ông cũng như bao nhiêu người dân, đang ráo riết lập chuồng trại chăn nuôi, mở rộng quy mô trang trại để nắm bắt cơ hội làm giàu mà nhất thời “chưa kịp” quan tâm đến việc phải xây thêm hầm xử lý và có các ao lắng lọc sinh học đúng chuẩn.

Tôi nhờ anh cán bộ môi trường huyện giới thiệu đến quan sát thêm một vài hộ chăn nuôi nhỏ lẻ mà chưa có biện pháp xử lý chất thải bằng mô hình biogas, anh ngập ngừng ngán ngại: “Trường hợp đó thì nhiều lắm! Nhưng thôi!” Anh bảo nếu tôi muốn đến xem những hộ ấy để phản ánh lên báo chí thì tốt nhất là phải đợi đi chung với đoàn kiểm tra, chủ cơ sở mới cho vào ghi hình chứ chưa nói đến các vấn đề phiền phức khác.

Lần này, tôi quyết đi tiếp về hướng Thành Thới B, đoạn qua cầu Cái Chát Nhỏ được bắc qua con kênh cùng tên và rẽ vào con đường đal liên xã từ Thành Thới B sang Thành Thới A. Không cần quan sát cũng biết khu này có nuôi heo nhiều bởi mùi hôi cứ thoảng thoảng theo vào mũi tôi suốt chặng đường. Hầu như có đến khoảng 80% các hộ dân hai bên đường có chuồng trại nuôi heo trong vườn dừa, vườn cây ăn trái. Anh Nguyễn Văn Hùng Cường – cán bộ môi trường xã Thành Thới A cho biết địa phương có 388 hộ đăng ký chăn nuôi với tổng đàn khá cao, gần 19.000con, chiếm 14% tổng đàn heo trên toàn huyện. Nhưng chỉ có 60% hộ có sử dụng biogas xử lý chất thải, trong đó đã có đến phân nửa dùng biogas dạng túi mủ vì chi phí đầu tư thấp, nhưng hiệu quả xử lý kém. Để gạn lọc những cơ sở chăn nuôi được cấp giấy chứng nhận hệ thống xử lý chất thải bằng hầm biogas xây bêtông đạt yêu cầu, hạn chế gây ô nhiễm môi trường, Hùng Cường chỉ vào các đầu ngón tay đếm khẽ: “Một, hai, ba! Đó là các hộ: ông Ngô Văn H, Ngô Văn Th, Phạm Văn H (ấp Thới Đức)”. Như vậy, có đến 40% số hộ chăn nuôi của xã đều cho toàn bộ chất thải vào ao vườn.  Điều gì sẽ xảy ra khi hầu hết người dân nơi đây đều sử dụng nguồn nước sông cho sinh hoạt hàng ngày. Như xã Thành Thới A chỉ có 1 cây nước sạch, công suất hoạt động 10m3/giờ đủ cung cấp cho 400 hộ, nhưng hiện toàn xã chỉ có hơn 200 hộ có nhu cầu và điều kiện sử dụng. Còn người dân các xã Thành Thới A, Thành Thới B, Hương Mỹ, Cẩm Sơn, Ngãi Đăng… đang sử dụng nguồn nước ngọt từ sông Cổ Chiên.

Có nên chăng các ngành chức năng cần tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật về bảo vệ môi trường, có nhiều giải pháp hỗ trợ nông dân để cải thiện môi trường tốt hơn, làm cho người dân cân phân giữa lợi ích kinh tế và môi trường, trong chăn nuôi phát triển.

Bài, ảnh: Cẩm Trúc

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN

Liên kết hữu ích