Đẩy mạnh đưa khoa học, công nghệ vào sản xuất, kinh doanh

02/12/2020 - 06:51

BDK - Nền kinh tế nước ta đã và đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đã được ký kết, trong đó có EVFTA - Hiệp định Thương mại tự do giữa Liên minh Châu Âu (EU) và Việt Nam; CPTPP - Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương; RCEP - Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực… Từ đó, buộc các doanh nghiệp (DN) ở địa phương phải đưa yếu tố khoa học và công nghệ (KH&CN) vào sản xuất và kinh doanh, đóng góp tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sự hình thành và hoàn thiện theo hướng chuỗi giá trị. Đặc biệt, chú trọng xây dựng thương hiệu phát triển thị trường, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa.

Công ty TNHH Chế biến dừa Lương Quới quan tâm đổi mới công nghệ.

Công ty TNHH Chế biến dừa Lương Quới quan tâm đổi mới công nghệ.

Thúc đẩy kinh tế phát triển

Theo Giám đốc Sở KH&CN Lâm Văn Tân, thời gian qua, việc thực hiện các đề tài nghiên cứu KH được thực hiện theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, bám sát vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tỷ lệ ứng dụng kết quả nghiên cứu của các đề tài kỹ thuật vào sản xuất đạt trên 85%.

Các kết quả nghiên cứu áp dụng trong sản xuất nông nghiệp đã làm thay đổi nhận thức của người dân trong việc chủ động áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, đem lại hiệu quả thiết thực. Kết quả nghiên cứu về giống mới, kỹ thuật canh tác mới phù hợp với điều kiện sản xuất, mô hình ứng dụng làm gia tăng sản lượng, chất lượng nông sản, đáp ứng yêu cầu thị trường tiêu thụ.

Một số đề tài đã tạo ra bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, như: việc xây dựng và quản lý và phát triển các chỉ dẫn địa lý dừa xiêm xanh, bưởi da xanh, sầu riêng, tôm càng xanh, cua biển, chôm chôm…bước đầu phát huy hiệu quả, tạo thành vùng những sản xuất tập trung, kết hợp truy xuất nguồn gốc sản phẩm chủ lực, cấp mã số vùng trồng, xây dựng mô hình sản xuất an toàn, GAP, hữu cơ… nâng cao giá trị, sức cạnh tranh và phát triển thị trường bền vững, phục vụ tốt nhu cầu xuất khẩu. Đầu tư đổi mới CN cho dây chuyền sản xuất dầu dừa, sữa dừa Công ty TNHH Chế biến dừa Lương Quới, dây chuyền lột vỏ dừa của Công ty dừa Bến Tre, sản phẩm giấy từ nước dừa Công ty mỹ phẩm dừa Cửu Long…, góp phần đa dạng hóa các sản phẩm chế biến từ dừa (với hơn 200 sản phẩm).

Nguồn nhân lực KH&CN bước đầu đáp ứng yêu cầu phát triển ở một số lĩnh vực, ngành nghề. Kết cấu hạ tầng KH&CN từng bước được quan tâm đầu tư. Giá trị sản xuất sản phẩm CN cao trên tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh dần được tăng lên hàng năm. Tốc độ đổi mới CN, thiết bị đạt 20%/năm. Giá trị sản phẩm CN cao và ứng dụng CN cao trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp đạt 30%. Giá trị sản phẩm và dịch vụ KH&CN trên thị trường tăng bình quân 20%/năm và chiếm tỷ trọng 6,2% GRDP của tỉnh. Đóng góp của KH&CN thông qua yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) đạt 25% tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Đây được xem là tiềm lực để thực hiện có hiệu quả Đề án Phát triển KH&CN tỉnh giai đoạn 2020 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030.

“Chìa khóa của thành công”

Kết quả hoạt động KH&CN vẫn còn nhiều hạn chế. Đóng góp của KH&CN vào phát triển kinh tế - xã hội còn ở mức khiêm tốn so với nhu cầu. Các nhiệm vụ KH&CN còn mang tính riêng lẻ, có quy mô nhỏ. Cộng đồng DN và xã hội chưa quan tâm nhiều đến phát triển KH&CN. Hàm lượng KH trong các sản phẩm của tỉnh còn thấp nên sức cạnh tranh của DN còn hạn chế. Việc nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ KH&CN chưa phát huy hết tiềm năng và lợi thế của tỉnh. Đầu tư KH&CN còn dàn trải, chưa tập trung. Năng lực tiếp nhận và ứng dụng kết quả nghiên cứu KH vào thực tiễn sản xuất của các DN, hộ nông dân và các tổ chức sự nghiệp của tỉnh còn nhiều hạn chế…

Tại hội nghị Tỉnh ủy (ngày 1 và 2-12-2020), các đại biểu thảo luận thông qua dự thảo Đề án Phát triển KH&CN tỉnh giai đoạn 2020 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Giám đốc Sở KH&CN Lâm Văn Tân cho biết, quan điểm của Đề án là hướng đến phát triển kinh tế nhanh và bền vững, dựa chủ yếu vào KH&CN và đổi mới sáng tạo. Chủ động, tích cực tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 gắn với quá trình hội nhập quốc tế, đổi mới tư duy và hành động, nắm bắt kịp thời, tận dụng hiệu quả các cơ hội để phát triển kinh tế số, xã hội số, chính quyền số. Nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và khả năng chống chịu của nền kinh tế.

Một số mục tiêu tổng quát của đề án là phát triển KH&CN tỉnh trở thành động lực then chốt, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế - xã hội. Xác định “KH&CN là chìa khóa của thành công” trong việc nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng chống chịu của nền kinh tế. Phát triển thị trường KH&CN, DN KH&CN, DN có hoạt động đổi mới sáng tạo và dịch vụ KH&CN. Thúc đẩy khởi nghiệp và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, các mô hình kinh doanh mới. Đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế về KH&CN. Gắn liền nhiệm vụ KH&CN với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở các cấp, các ngành. Tiếp tục xã hội hóa hoạt động KH&CN trên địa bàn tỉnh. Đổi mới CN, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, ứng dụng KH&CN vào sản xuất và đời sống, góp phần thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh giai đoạn 2020 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030.

Bài, ảnh: Cẩm Trúc

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN