Gắn học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XI của Đảng với thực hiện tốt Chương trình hành động của Tỉnh ủy, hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội IX Đảng bộ tỉnh (*)

09/06/2011 - 18:18
Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Thành Phong phát biểu tại hội nghị nghiên cứu, quán triệt nghị quyết. Ảnh: T.Long

(Bài phát biểu bế mạc của Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Thành Phong tại Hội nghị cán bộ chủ chốt cấp tỉnh nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, ngày 9-6-2011)

 

Qua gần 2 ngày làm việc tích cực, khẩn trương, nghiêm túc, Hội nghị cán bộ chủ chốt cấp tỉnh nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã hoàn thành nội dung chương trình đề ra. Nhìn chung công tác tổ chức Hội nghị được chuẩn bị khá chặt chẽ và chu đáo; đại biểu tham dự Hội nghị đông đủ, đề cao trách nhiệm trong nghiên cứu, tiếp thu các nội dung văn kiện; các đồng chí báo cáo viên có nhiều cố gắng chuẩn bị, truyền đạt những nội dung cơ bản, những vấn đề mới bổ sung, phát triển trong các văn kiện Đại hội.

Thay mặt Ban Thường vụ Tỉnh ủy, tôi nhiệt liệt biểu dương tinh thần làm việc của các đồng chí tham dự hội nghị và đánh giá cao kết quả hội nghị chúng ta đạt được trong 2 ngày qua. Để kết thúc hội nghị, xin được lưu ý nhấn mạnh một số vấn đề để chúng ta cùng quan tâm trong quá trình lãnh đạo tổ chức triển khai quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng.

Như đã nói, Hội nghị chúng ta có ý nghĩa đặc biệt quan trọng xuất phát từ tính chất, vai trò, ý nghĩa quan trọng của Đại hội XI của Đảng và các văn kiện được Đại hội thông qua. Nội dung các văn kiện là quá trình tổng kết thực tiễn, đúc kết kinh nghiệm của hơn 80 năm cách mạng Việt Nam, 25 năm thực hiện đường lối đổi mới, 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng. Các văn kiện đã được thảo luận đóng góp ý kiến rộng rãi từ cơ sở, của các tầng lớp nhân dân và toàn Đảng, là sự kết tinh trí tuệ, thể hiện tình cảm, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, quyết định những mục tiêu cho 5 năm, 10 năm, đến giữa thế kỷ và suốt cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Vì vậy, đòi hỏi nội dung các văn kiện phải được nghiên cứu, học tập, quán triệt một cách đầy đủ, sâu rộng, để có sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo trong quá trình tổ chức thực hiện.  

Thứ nhất, về Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011). Trước hết, chúng ta cần nhận thức đúng tầm vóc, vị trí của Cương lĩnh năm 1991, bởi đó là thời kỳ cực kỳ khó khăn của chủ nghĩa xã hội, các thế lực thù địch tập trung tấn công, chống phá một cách quyết liệt nhằm thủ tiêu chủ nghĩa xã hội, thủ tiêu chủ nghĩa Mác-Lênin; đó là thời kỳ của những năm đầu đổi mới, tình hình quốc tế vô cùng phức tạp, tình hình trong nước cũng đang đứng trước vô vàn khó khăn, thử thách, một bộ phận cán bộ, đảng viên tỏ ra hoang mang, dao động. Trong tình thế đó, Cương lĩnh năm 1991 ra đời thể hiện bản lĩnh và tầm cao trí tuệ của Đảng ta, là ngọn cờ tư tưởng của đổi mới, khẳng định mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, góp phần củng cố niềm tin, đoàn kết các tầng lớp nhân dân vững tin và đi theo Đảng. Qua 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, chúng ta đã giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường thuận lợi để đổi mới, đưa đất nước vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội, tiến hành và đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa nước ta vượt qua tình trạng nước nghèo, kém phát triển; phá được thế bao vây cấm vận của các thế lực thù địch, nâng cao vai trò, uy tín của Đảng ta, đất nước ta, dân tộc ta trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay bối cảnh thế giới diễn biến phức tạp, khó lường. Chúng ta đang đứng trước âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đòi hỏi chúng ta phải không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, xây dựng khối đoàn kết thống nhất, huy động sức mạnh bên ngoài, kết hợp với phát huy sức mạnh nội lực của đất nước, dân tộc, phải bắt kịp yêu cầu cuộc sống, yêu cầu thời đại; đặc biệt là  không phạm sai lầm về đường lối đối nội, đối ngoại, tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển, ổn định chính trị - xã hội, phát huy sức mạnh toàn dân tộc thì sẽ xây dựng thành công mô hình chủ nghĩa xã hội ở nước ta - đó là điều khẳng định.

- Việc bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991 tại Đại hội XI của Đảng - Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đó là sự tiếp tục khẳng định Cương lĩnh 1991, kế thừa những nội dung, giá trị đã được thực tiễn kiểm nghiệm, đồng thời phát triển, bổ sung nhiều nội dung quan trọng với những nhận thức mới phù hợp với thực tiễn Việt Nam và thời đại ngày nay. Với tầm vóc, giá trị thực tiễn như vậy, Cương lĩnh 2011 là ngọn cờ tư tưởng, ngọn cờ chiến đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, tạo sự thống nhất cao trong Đảng, sự đồng thuận cao trong nhân dân, quyết tâm thực hiện mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là: “Xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc” và phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI “Xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa".

- Về đặc trưng và mô hình chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng, Cương lĩnh 1991 nêu 6 đặc trưng, Cương lĩnh 2011 bổ sung 2 đặc trưng:

Đặc trưng thứ nhất là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đây là đặc trưng mang tính tổng quát nhất, vừa phản ánh mục tiêu tổng quát vừa phản ánh bản chất chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng. Đây là bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng ta, Đại hội X xác định đặc trưng này là xây dựng xã hội “Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”, nhưng đến bổ sung, phát triển Cương lĩnh 2011, cụm từ “dân chủ” được đưa lên trước “công bằng”, là “xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đó là điểm mới so với Cương lĩnh 1991, chúng ta thấy “dân chủ” đã đặt đúng vị trí, đặt trước “công bằng”, vì dân chủ là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Dân chủ là đặc trưng hết sức quan trọng và là bản chất của xã hội xã hội chủ nghĩa, là điều kiện để đảm bảo cho thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội, không có dân chủ thì không thể nói đến công bằng. Đây là quan niệm mới, là ý chí của toàn Đảng, chúng ta cần nhận thức thống nhất trong quá trình quán triệt thực hiện.

Đặc trưng thứ hai được bổ sung là: “Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”. Đây là sự đề cao vai trò, trách nhiệm của Nhà nước trước nhân dân và khẳng định phương thức lãnh đạo của Đảng. Nghĩa là Đảng lãnh đạo đất nước, lãnh đạo xã hội bằng nhiều phương thức, trong đó quan trọng nhất là Đảng lãnh đạo xã hội thông qua Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Về đặc trưng kinh tế của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng, có sự sửa đổi quan trọng so với cách thể hiện trong Cương lĩnh 1991; trong Cương lĩnh 1991 thể hiện: “Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu”. Còn Cương lĩnh 2011 khẳng định đặc trưng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là “Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”. So với cách trình bày trong Cương lĩnh 1991 có điểm mới, đó là “quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”. Cần nhận thức rằng, cách diễn đạt của Cương lĩnh 2011 và Cương lĩnh 1991 là hai cách diễn đạt của một vấn đề chứ không phải hai đặc trưng khác nhau. Đây là sự tiếp tục hoàn thiện nhận thức của Đảng ta về mối tương quan giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Diễn đạt như trên là phù hợp với nguyên lý chủ nghĩa Mác; phù hợp chủ nghĩa duy vật lịch sử là quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội.

Như vậy, Cương lĩnh 2011 đã xác định mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng có 8 đặc trưng - thể hiện mô hình toàn diện, phản ánh được đặc trưng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, về đối nội, đối ngoại…; phản ánh đầy đủ bản chất của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng.

- Về Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh 2011 khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ Nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”. Việc bổ sung sự diễn đạt mới về Đảng là thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa giai cấp và dân tộc, thể hiện tính quy luật trong quá trình xây dựng và phát triển của Đảng. Cương lĩnh 2011 tiếp tục khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”. 

Trong 8 mối quan hệ lớn được nêu trong Cương lĩnh 2011, tất cả đều quan trọng, chúng ta phải hết sức chú ý xử lý tốt mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển. Trong đó, ổn định là tiền đề, đổi mới là động lực, phát triển là mục tiêu. Nếu không đổi mới thì không giữ được ổn định, cũng không thể phát triển, nhưng phải đảm bảo ổn định để đổi mới thành công và làm cơ sở cho phát triển. Phải xử lý tốt mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Chúng ta nói đổi mới toàn diện nhưng không phải cùng một lúc đổi mới tất cả các lĩnh vực. Trên cơ sở thành tựu của đổi mới kinh tế, mới làm rõ yêu cầu, nội dung đổi mới về chính trị. Nếu không đổi mới kinh tế thì không có nguồn lực để phát triển đất nước, nếu không đổi mới chính trị thì kìm hãm sự phát triển của kinh tế. Vấn đề ở đây là không thể nóng vội, đổi mới chính trị phải có bước đi, quyết sách phù hợp, có nguyên tắc. Đổi mới chính trị trước hết là đổi mới phương thức lãnh đạo, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải tiến phong cách và lề lối làm việc,... Đổi mới chính trị đến đâu, đổi mới vấn đề gì Đảng ta đều phải cân nhắc, đảm bảo không chệch hướng, không xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng.

Bên cạnh đó, chúng ta cần nắm vững và giải quyết tốt mối quan hệ giữa kinh tế thị trường với định hướng XHCN, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, giữa mở cửa, hội nhập và giữ vững độc lập tự chủ, mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Đặc biệt, trong quá trình giải quyết các mối quan hệ trên không được phiến diện, cực đoan, duy ý chí và đòi hỏi sự nghiên cứu, sáng tạo, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước.

Thứ hai, đối với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020: Cần nắm vững 5 quan điểm phát triển nêu trong Chiến lược để có sự vận dụng trong quá trình tổ chức thực hiện. Đó là: phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược; đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển; phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học, công nghệ ngày càng cao, đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Cần nắm vững nội dung 3 khâu đột phá chiến lược trong mười năm tới đó là: một là, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính; hai là, phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ; ba là, xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn.

Đặc biệt, một trong những nội dung quan trọng trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 là việc đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế. Vì sao phải đổi mới mô hình tăng trưởng? Yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng như thế nào? Như chúng ta biết, hạn chế, yếu kém của nền kinh tế nước ta có nguyên nhân chủ yếu của nó là do công tác quản lý, điều hành, nhưng cũng có nguyên nhân từ mô hình tăng trưởng không còn phù hợp. Mô hình tăng trưởng của chúng ta hiện nay là mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, tức là tăng trưởng kinh tế bằng cách tăng thêm các nguồn lực, tăng thêm vốn đầu tư, tăng thêm sử dụng các nguồn tài nguyên,… Nếu cứ kéo dài mô hình tăng trưởng này đến một thời gian nào đó chúng ta sẽ cạn kiệt nguồn lực, tài nguyên… và không thể phát triển được nữa. Chính vì thế mà chúng ta phải đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc lại nền kinh tế theo hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô, vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững. Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học công nghệ ngày càng cao…

Tái cấu trúc lại nền kinh tế bao gồm nhiều nội dung như: tái cấu trúc cơ cấu kinh tế, tái cấu trúc doanh nghiệp, tái cấu trúc thị trường, tái cấu trúc vốn đầu tư. Trong tái cấu trúc cơ cấu kinh tế, trọng tâm là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng trưởng sản phẩm quốc dân, nhằm tạo ra nhiều sản phẩm có hàm lượng khoa học công nghệ cao, có khả năng cạnh tranh để có thể tham gia vào mạng sản xuất chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời coi trọng phát triển nông nghiệp để ổn định xã hội, đảm bảo an ninh lương thực, cải thiện đời sống nhân dân. 

Thứ ba, đối với Báo cáo chính trị, cần nghiên cứu nắm chắc 6 thành tựu, 6 hạn chế, khuyết điểm, nguyên nhân và kinh nghiệm qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X; bối cảnh tình hình quốc tế, trong nước. Nắm vững mục tiêu tổng quát 5 năm tới, là: “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế nhanh, bền vững; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị xã hội, tăng cường hoạt động đối ngoại; bảo vệ vững chắc độc lập, tự chủ, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Trọng tâm là tập trung nghiên cứu nắm chắc 5 nhiệm vụ chủ yếu và 10 nhóm giải pháp được nêu trong Báo cáo chính trị để vận dụng xây dựng chương trình hành động của các cấp ủy, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp đã đề ra trong 5 năm tới.

Thứ tư, đối với Điều lệ Đảng bổ sung, sửa đổi, tinh thần chung là cần nắm chắc các điểm mới bổ sung, sửa đổi trong Điều lệ. Cụ thể: về tiêu chuẩn đảng viên, quy định về những điều đảng viên không được làm, về tính tuổi đảng viên, về thành lập tổ chức cơ sở đảng, về nhiệm kỳ đại hội đảng ở những nơi mới thành lập, chia tách, hợp nhất, sát nhập trong nhiệm kỳ, quy định về thí điểm một số chủ trương mới, về chức năng, nhiệm vụ của ban cán sự đảng, đảng đoàn; thẩm quyền kỷ luật đảng viên; về Đảng lãnh đạo Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; cụ thể hóa một số chức danh và vai trò chỉ đạo của Đảng đối với Quân đội; về tên gọi của Đảng ủy Quân sự Trung ương. Yêu cầu đặt ra là việc phổ biến, truyền đạt phải chính xác và tổ chức thực hiện nghiêm túc trong toàn Đảng bộ, góp phần xây dựng Đảng ta trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, để Đảng ngang tầm với nhiệm vụ mới.

Đối với dự thảo Chương trình hành động của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết Đại hội XI, qua thảo luận, các ý kiến phát biểu đều bày tỏ sự đồng tình, đồng thời có góp ý, bổ sung một số nội dung cụ thể, Ban Thường vụ Tỉnh ủy xin tiếp thu, hoàn chỉnh để ban hành, làm cơ sở để triển khai tổ chức thực hiện. Tôi cũng xin lưu ý các cấp ủy trực thuộc trong chỉ đạo xây dựng chương trình hành động của cấp mình và các cấp ủy cơ sở, cần bám chắc quan điểm, mục tiêu Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Nghị quyết Đại hội IX của Đảng bộ tỉnh và Chương trình hành động của Tỉnh ủy, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội của cấp mình để khẳng định lại mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phù hợp với thực tiễn yêu cầu nhiệm vụ của ngành và địa phương; chú ý chọn đúng khâu đột phá, những công việc cụ thể cần tập trung, nhất là đối với cấp cơ sở là cấp tổ chức thực hiện, nên việc xây dựng chương trình phải hết sức cụ thể, tránh tình trạng sao chép, rập khuôn văn bản của cấp trên. Trong chương trình hành động phải phân công giao trách nhiệm cụ thể (ai làm, ngành nào làm), làm bằng cách nào, bao giờ làm, quy định thời gian khi nào xong. Định kỳ hằng năm, sáu tháng có rà soát chấn chỉnh chỉ tiêu, biện pháp thực hiện thắng lợi các mục tiêu Nghị quyết đề ra.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Kế hoạch số 13 để chỉ đạo việc triển khai quán triệt Nghị quyết Đại hội XI trong toàn Đảng bộ, tôi đề nghị các đồng chí bí thư các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc trực tiếp chỉ đạo công tác này, đảm bảo việc học tập quán triệt Nghị quyết lần này được tổ chức nghiêm túc, đạt yêu cầu về thời gian, chất lượng theo kế hoạch của Tỉnh ủy.

Bên cạnh việc tổ chức học tập quán triệt Nghị quyết, các cấp ủy Đảng, các ngành cần tập trung lãnh đạo tiếp tục thực hiện tốt Chương trình hành động của Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh thực hiện Kết luận 02 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 11 của Chính phủ, góp phần cùng Trung ương Đảng, Chính phủ kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội; chỉ đạo các giải pháp quyết liệt nhằm tháo gỡ khó khăn, thực hiện hoàn thành các nhiệm vụ, chỉ tiêu theo Nghị quyết năm 2011 đã đề ra, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội IX Đảng bộ tỉnh và Nghị quyết Đại hội XI của Đảng.

Với tinh thần đó, thay mặt Ban Thường vụ Tỉnh ủy, tôi tuyên bố bế mạc Hội nghị cán bộ chủ chốt cấp tỉnh nghiên cứu quán triệt Nghị quyết Đại hội XI của Đảng. Xin chúc các đồng chí đại biểu nhiều sức khỏe, hạnh phúc và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

___________

(*): Đầu đề do Tòa soạn đặt.

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN