Hoàn thành cơ bản kế hoạch năm 2010

26/12/2010 - 16:33

Được sự quan tâm chỉ đạo của Bộ Khoa học và Công nghệ, Tỉnh ủy, UBND tỉnh, sự hỗ trợ của các sở, ban ngành, huyện, thành phố và sự nỗ lực của toàn thể cán bộ, công chức, viên chức của sở, hoạt động khoa học và công nghệ năm 2010 cơ bản hoàn thành kế hoạch đề ra, trong đó thể hiện ở một số lĩnh vực cơ bản như: Tăng cường công tác xây dựng và tham mưu cho UBND tỉnh ban hành các chỉ thị, quy chế, chương trình hành động liên quan đến hoạt động quản lý, triển khai thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Qua đó đã góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý cũng như nghiên cứu, triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ của tỉnh.

Trong năm 2010, Sở Khoa học và Công nghệ đã tổ chức quản lý 57 chương trình, đề tài, dự án. Trong đó có 1 dự án hợp tác quốc tế, 3 dự án cấp bộ và 53 chương trình, đề tài, dự án cấp tỉnh, 6 đề tài cấp cơ sở (do Sở thực hiện); đã tổ chức quản lý có hiệu quả các chương trình: Chương trình phát triển 4.000ha bưởi da xanh tỉnh Bến Tre đến năm 2010 (gồm 10 đề tài, dự án), đã được tổ chức tổng kết nghiệm thu và tiếp tục xây dựng Chương trình bưởi da xanh tỉnh Bến Tre giai đoạn 2. Chương trình đã xây dựng được chuỗi giá trị cho sản phẩm bưởi da xanh Bến Tre từ khâu giống sạch bệnh, kỹ thuật canh tác, bảo quản sau thu hoạch và phát triển thị trường...

Chương trình Phát triển và sản xuất rau an toàn trên địa bàn tỉnh Bến Tre đến năm 2015 (gồm 6 đề tài, dự án). 

Chương trình Sản xuất sạch hơn và tiết kiệm năng lượng trong hoạt động sản xuất, sinh hoạt dân dụng và chiếu sáng công cộng trên địa bàn tỉnh Bến Tre đến năm 2015.

Nghiên cứu chế tạo thành công máy lột dừa khô, công suất 360 trái/giờ góp phần cơ giới hóa trong ngành dừa.

Bước đầu đã nghiên cứu thành công qui trình sản xuất vỏ trái cacao làm phân bón hữu cơ và  thức ăn bổ sung cho bò; “Xây dựng và vận hành hệ thống quản lý chất lượng đạt chứng nhận GlobalGAP cho sản phẩm chôm chôm Chợ Lách – Bến Tre”; Mô hình xử lý nước thải trong sản xuất cơm dừa nạo sấy quy mô công nghiệp (đạt tiêu chuẩn loại B) và sản xuất kẹo dừa quy mô nhỏ (đạt tiêu chuẩn loại A) góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường và tạo mô hình nhân rộng trong toàn tỉnh.

Lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn, y tế, giáo dục cũng đạt được hiệu quả cao trong năm vừa qua, đã xây dựng xong các mô hình như: mô hình nâng cao năng lực lãnh đạo và tổ chức thực hiện nghị quyết của chi bộ ấp, khu phố; mô hình “chính trị viên phó” cấp xã trong quân sự; mô hình ứng dụng y học cổ truyền trong phòng và điều trị các bệnh thông thường bằng các phương pháp dưỡng sinh, bấm huyệt; mô hình y tế trường học theo hướng xã hội hóa bước đầu được triển khai tại 3 trường điểm; biên soạn xong giáo trình ngữ văn địa phương và tài liệu dạy học tự chọn trong các trường trung học cơ sở; phương pháp “vận dụng lý luận dạy cách học” đã được thực nghiệm trong các trường trung học cơ sở được sự đồng tình cao của giáo viên và học sinh; khảo sát tình hình thực hiện pháp luật cơ sở và đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực thực hiện cho một số địa phương; khảo sát vấn đề chuyển dịch lao động, cơ cấu dân cư, nguồn nhân lực ở các khu đô thị và khu cụm công nghiệp của tỉnh Bến Tre. Bên cạnh đó, không ngừng nâng cao vai trò và hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ cấp cơ sở.

Hoạt động thông tin khoa học và công nghệ, sở hữu trí tuệ, an toàn bức xạ và hạt nhân: đã tập trung xây dựng kế hoạch triển khai công tác lưu trữ và sử dụng kết quả hoạt động khoa học và công nghệ. Phối hợp tập huấn cho trên 200 đối tượng là đại diện của các hiệp hội, làng nghề, hợp tác xã trên địa bàn tỉnh và các tỉnh lân cận, các hộ sản xuất kinh doanh... Công tác phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ cũng như công tác hợp tác về khoa học công nghệ trong năm vừa qua cũng được chú trọng thông qua các đề tài, dự án và hội thảo khoa học.

Hoạt động triển khai các đề tài, dự án được thực hiện đúng tiến độ và tăng 15% so với cùng kỳ năm 2009. Lĩnh vực thông tin khoa học và công nghệ đã từng bước nâng cao chất lượng, số lượng và đa dạng hóa hình thức cung cấp thông tin, đảm bảo tính kịp thời, chính xác, phục vụ thiết thực cho hoạt động quản lý, điều hành của lãnh đạo và hỗ trợ các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nội dung và hình thức được nâng lên rõ rệt, đạt 113,6% chỉ tiêu kế hoạch và tăng 13,6% so với cùng kỳ năm 2009.

Việc đổi mới thiết bị công nghệ và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, xây dựng và quảng bá thương hiệu được các doanh nghiệp chú trọng, tập trung vào một số sản phẩm ưu tiên phát triển của tỉnh; thực hiện vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Hoạt động tiêu chuẩn đo lường chất lượng thực hiện vượt chỉ tiêu kế hoạch giao; đã triển khai dự án đào tạo chuyên gia tư vấn (thực hiện đạt 190%); công tác kiểm định (thực hiện đạt 121%), tăng 13% so với cùng kỳ; hoạt động dịch vụ và thanh tra đều vượt chỉ tiêu đề ra.

Nhằm phát huy các thành quả đã đạt được trong năm, Sở Khoa học và Công nghệ sẽ tiếp tục tập trung nâng cao năng lực thẩm định, hỗ trợ các doanh nghiệp lựa chọn thiết bị công nghệ tiên tiến để sản xuất hàng hóa với quy mô, chất lượng, hiệu quả ngày càng cao, phát huy thế mạnh về thương hiệu sản phẩm; có chính sách đãi ngộ để khai thác, phát huy tốt các nguồn lực về khoa học, công nghệ; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ phục vụ sản xuất kinh doanh; có chính sách thu hút thanh niên, trí thức về nông thôn công tác, nhất là lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, chế biến; đồng thời, huy động các nguồn lực xã hội cho việc ứng dụng, chuyển giao công nghệ - nhất là công nghệ về giống cây trồng, vật nuôi, công nghệ bảo quản và chế biến nông sản, tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh một số sản phẩm thuộc diện ưu tiên phát triển của tỉnh, như: dừa và các sản phẩm từ dừa, trái cây, thủy hải sản...

Ngọc Diễm

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN