Hồi đó tôi làm mật giao

20/01/2022 - 16:24

BDK - Vào những năm khi tôi còn trong tuổi thanh nữ, chưa có ai gọi tôi là Sáu Xuân. Cái tên Sáu Xuân chỉ được gọi thường lúc sau này. Ấy là khi đồn Hữu Định đã bị mất khá lâu, kế đến tôi làm Hội trưởng Phụ nữ xã, rồi sau đó được rút về làm Huyện đội phó của huyện Châu Thành, thoát ly gia đình theo kháng chiến chống Mỹ. Tên thật của tôi là Sặc (Dương Thị Sặc). Những người thân trong gia đình gọi tôi bằng tên thật. Bọn lính trong đồn Dân vệ cũng gọi tôi bằng tên thật, ngoại trừ có đứa nhỏ tuổi hơn nể mặt thì gọi tôi bằng chị Sáu.

“Đội quân tóc dài” biểu tình đòi hủy bỏ Luật phát xít 10-59, đòi thành lập một chính phủ dân chủ tiến bộ, phản đối Mỹ - Diệm xây dựng căn cứ quân sự chuẩn bị chiến tranh. (Ảnh tư liệu TTXVN)

“Đội quân tóc dài” biểu tình đòi hủy bỏ Luật phát xít 10-59, đòi thành lập một chính phủ dân chủ tiến bộ, phản đối Mỹ - Diệm xây dựng căn cứ quân sự chuẩn bị chiến tranh. (Ảnh tư liệu TTXVN)

Nhà của tôi ở cặp con lộ vườn, cách đồn Dân vệ và trụ sở Hội đồng Hương chính của địch ở xã chừng hai trăm thước về phía Tây. Trong gia đình, ngoài mẹ già đã gần sáu mươi tuổi, còn có người chị thứ ba, hai đứa cháu và người anh thứ năm đã có vợ con ở cùng nhà. Hàng ngày đi cấy, đi gặt với chị em, nhưng công việc thường xuyên của tôi là kháp rượu, nuôi heo. Rượu kháp xong pha lại rồi cho vào hai cái hũ sành (hồi ấy chưa có can nhựa). Tôi lần lượt cho từng cái vào trong chiếc giỏ đệm, treo lên hai đầu gánh rồi gánh đi bỏ mối. Khi nào phải đi xa thì dùng đến xe đạp. Mối của tôi là những quán hoặc ở bên Phước Thạnh, hoặc ở trên ấp Một, có khi vượt lộ 6 đổ về phía An Khánh, có khi ra tận ngoài chợ Bến Tre. Làm việc ấy, ngoài mục đích để nuôi sống gia đình, tôi còn một trọng trách nữa là mượn cớ đi lại để bí mật duy trì đường dây liên lạc cho các chú, các anh - những người của tổ chức cách mạng, không nằm trong diện phải ra Bắc tập kết mà ở lại hoạt động.

Do có được lợi thế nhà ở cạnh đồn nên vào năm 1957, các anh giao cho tôi làm mật giao, kiêm luôn cả công việc của cán bộ vị trí. Nói như vậy vì ngoài việc bí mật kết nối liên lạc giữa tổ chức cách mạng ở bên ngoài với ba cơ sở nội tuyến đang ở trong lòng địch là Sáu Tý, Năm Mai, Chín Rô (do Sáu Tý làm tổ trưởng), tôi còn phải thường xuyên theo dõi những diễn biến của địch ở cả hai nơi: đồn Dân vệ và trụ sở tề xã, giữa chúng chỉ cách nhau một con lộ đất được gọi là con lộ vườn. Đối với bọn tề xã, tôi cần biết tên nào hiền, tên nào dữ, tên nào ác ôn và theo thông lệ thì khoảng bao lâu có người của chúng từ trên quận xuống... Đối với đồn Dân vệ phải chặt chẽ hơn. Hàng đêm, cứ trời sụp tối là tôi để ý cái cổng vào, ngó xem chúng đi ra mấy thằng, đi lúc nào và trở về lúc nào, về có đủ không, có ai bị chúng bắt dẫn về không...

Ngoài việc ấy, tôi còn có được thuận lợi nữa là ở phía đằng sau có cái nhà tắm, cất kề bên mé xẻo, nước lúc nào cũng đầy lu, được lóng phèn, trong vắt. Ban đầu theo chân Sáu Tý qua nhà chơi, gặp lúc trời nóng nực có một thằng lính xin tắm. Tắm rồi thấy thích nó đồn ra. Vậy là từ đó ngày nào cũng có vài ba tên lính từ bên đồn qua để tắm nhờ. Ấy là chưa kể có cái quán của cô Nguyên ở gần, mỗi lần kéo qua uống nước đá hoặc ăn kẹo bánh, tiện dịp chúng cũng hay tạt qua nhà tôi. Tôi nhờ có quan hệ như vậy mà không bị địch dòm ngó, mặc dù khi ấy tôi đã đính hôn cùng với anh Võ Văn Ngăn, người cùng ấp Hai - trước kia là chiến sĩ của Tiểu đoàn 307, chiến đấu bị thương mất một cánh tay, sau hòa bình 1954 trở về sống với người mẹ già và đứa em trai út, cũng làm nghề kháp rượu.

Những tin tức thu được nhờ quan sát, nhờ cánh nội tuyến cho hay hoặc nhờ nghe lõm được những khi bọn lính trò chuyện, tôi đều báo hết về một mối cho anh Ba Tợ. Anh Ba Tợ là người duy nhứt trong tổ chức chi bộ xã Hữu Định mà tôi được phép liên lạc. Bởi lúc ấy tình hình đang rất găng. Bọn địch thực thi chính sách bài cộng. Hệ thống kềm kẹp của chúng đặt tới từng nhà. Bọn mật thám ngày đêm rình rập, sơ hở một chút là có thể bị liên lụy đến tính mạng. Sau này được dịp nghe và biết thêm, tôi mới rõ lúc ấy cũng là lúc mà tổ chức cách mạng của xã đang gặp nhiều khó khăn, tổn thất. Nhiều đồng chí trong chi bộ bị bắt, bị tù. Một số khác bị lộ phải đi điều lắng. Đồng chí Hai Bình, lúc ấy là bí thư chi bộ được phân công bám lại phải ở trong hầm bí mật hoặc lẩn trốn trong các lùm bụi. Giải pháp của cách mạng lúc đó là phải cài cho được người của mình vào trong lòng địch. Trước mắt để theo dõi chúng, lâu dài chờ thời cơ đến có sẵn lực lượng để đứng lên, không bị lỡ đà.

Tôi dạo ấy tuy rằng bị bó hẹp trong khuôn khổ của mật giao, song tôi cũng mơ hồ thấy hình như có một việc gì đó đang đến gần. Rồi một bữa, theo lời hẹn, tôi đến gặp anh Ba Tợ và nghe anh nói nhỏ: “Trên huyện ủy đã cho lịnh...”. Nghe xong, trở về nhà tôi giữ kín trong bụng.

Theo xếp đặt thì vào khoảng hai giờ rưỡi chiều ngày mùng ba Tết, nhằm ngày 30 tháng 1 năm 1960, anh Võ Văn Ngăn (chồng sắp cưới của tôi) sẽ chạy chiếc xe đạp qua ngang cửa đồn. Trên xe nhứt thiết phải treo chiếc giỏ xách đệm, trong đó có sẵn vài óp nhang, trà và vài cây bánh in, đề phòng lỡ có bị địch tình nghi lục soát thì cứ nói “ngày Tết đi cúng mộ”. Một điều kiện phải có nữa là khi xe đến gần đồn, anh Ngăn phải bấm chuông, cho chuông kêu từng hồi dài, kêu cho đến lúc vượt qua khỏi đồn. Làm như vậy để khi nghe chuông, từ trong đồn Sáu Tý biết chắc rằng đã có lực lượng hỗ trợ từ bên ngoài đang áp lại gần. Nhưng lỡ Sáu Tý không nghe thấy thì sao? Để dự phòng cho tình huống này, tổ chức đã phân công thêm một người nữa, cũng với những động tác như vậy, nhưng đi sau anh Ngăn chừng mười phút.

Lúc này, trong đồn, Năm Mai đang gác, cầm khẩu trường mas ngồi trên mi-đo. Theo phân công của tổ: Hễ khi nào trong đồn Sáu Tý bắn cảnh sát Bộn, bọn lính đi chơi Tết ở ngoài nghe súng nổ ùa về thì Năm Mai vừa bắn bổng vừa xua đuổi tụi nó chạy luôn.

Song, để làm việc này, từ bữa trước, Sáu Tý đã dặn đứa em ruột của vợ mình đang ở cùng với mẹ vợ tại Phú Hưng rằng: “Cúng mùng ba xong nhớ đem đồ ăn cho anh nhiều nhiều”. Nhận được đồ ăn rồi, Sáu Tý hối người em vợ: “Về đi... Tránh chỗ cho người ta ăn nhậu”. Bảo như vậy cốt là để khi Sáu Tý hành động sẽ không có người thân bị liên lụy. Về trong trạng thái không vui, người em vợ nói với chị ruột của mình: “Anh Tư bữa nay kỳ” (gọi theo thứ của vợ Sáu Tý). Cả vợ và em vợ đều không được biết. Chỉ có Sáu Tý thì nhớ rành. Từ trong túi đệm đem ra những thứ thịt gà, tôm khô, lạp xưởng, dưa củ kiệu... rồi gỏi cuốn, Sáu Tý xếp lên bàn mời nhậu. Cảnh sát Bộn và bọn lính trong đồn cùng uống.

Quá trưa, thấm rượu, cảnh sát Bộn ngả người trên ghế bố ngủ. Ngủ vô tư như hắn đã quên rồi trước đây chính hắn đã từng trực tiếp tổ chức mạng lưới chỉ điểm dày đặc để rồi qua những người chỉ điểm ấy, hắn đã bắt bớ, đánh đập và đưa đi tù không biết bao nhiêu là đảng viên, cán bộ của cách mạng. Giấc ngủ do men rượu kéo dài. Một số tên khác thấy chưa đã, rủ nhau ra xóm “kiếm” thêm. Tên Bộn còn đang ngủ thì nghe tiếng chuông, Sáu Tý biết rằng đã chắc. Tuy nhiên để được chắc hơn, theo sự phân công của tổ chức tôi phải từ nhà qua quán của cô Nguyên, ngồi ở đó, cốt sao để từ trên mi-đo, Năm Mai nhìn thấy. Tôi cầm theo trái mảng cầu xiêm chín, đến quán bảo cô Nguyên đập nước đá “làm một ly”...

Tôi ngồi uống mảng cầu đá, được nửa ly thì nghe từ trong bót “đùng”. Rồi mấy tiếng “đùng” nữa. Mừng quá, tôi muốn vọt ra đường, nhưng nhớ lại mật giao không được làm như vậy, tôi ngồi yên, giả vờ có nghe súng nổ như súng vẫn thường nổ trong đồn. Giữa lúc ấy thì hàng loạt tiếng hô. Tiếng hô “xung phong” từ phía trong vườn dội tới. Ngẩng mặt lên, tôi thấy một đoàn người mặc quần áo xanh đội kết. Người đi đầu to cao là anh Hai Bình đang phất cờ, dẫn đường lao về phía đồn. Nhìn kỹ, tôi thấy còn có cả anh Tư Dụ - người của Huyện ủy Châu Thành đến chỉ đạo xã và nhiều người quen nữa mà bây giờ tôi không nhớ hết. Đoàn người tràn vô cùng với Sáu Tý, Năm Mai, Chín Rô thu hết súng đạn (trên một chục khẩu), rồi đốt đồn.

Sau này, ngồi đọc lại lịch sử, tôi thấy người ta nói lấy đồn Hữu Định là một diễn biến nằm trong hàng loạt những diễn biến của Đồng khởi đợt một ở Bến Tre.

Hàn Vĩnh Nguyên

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN