Kỷ niệm khó quên

08/12/2011 - 17:18

Thắm thoát mà đã 40 năm, kể từ ngày “không quân” ngụy Sài Gòn lần đầu tiên ném bom 7 tấn xuống chiến trường Ba Tri (Bến Tre), thuộc khu căn cứ Rạch Vọp, nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não lãnh đạo cuộc đấu tranh chống giặc bình định lấn chiếm Ba Tri thời bấy giờ.

Hôm đó là ngày 4-11-1971, một ngày sau khi Nguyễn Văn Thiệu tổ chức “độc diễn” bầu cử tổng thống bù nhìn (3-11).

Có thể nói, đây là thời kỳ Đảng bộ, lực lượng cách mạng và nhân dân Ba Tri bước vào giai đoạn thử thách gay go và quyết liệt nhất. Hầu hết đất đai trong huyện bị địch lấn chiếm, bộ đội địa phương, dân quân du kích, lực lượng dân chính đều bị đánh dạt ra khỏi địa bàn, lực lượng không lộ bên trong bị khủng bố, đàn áp khốc liệt… Song song với việc đóng đồn lấn ra các lõm ven căn cứ, địch tăng cường hỏa lực đánh phá, chà xát liên tục, kết hợp với hành quân càn quét vùng căn cứ, liên tục gây tiêu hao và bất ổn cho cách mạng.

Trong gian khổ và ác liệt của chiến tranh, vài người đang công tác trong hàng ngũ kháng chiến nhảy ra đầu hàng giặc. Thường trực Huyện ủy Ba Tri chỉ đạo tất cả các cơ quan trực thuộc Huyện ủy phải cảnh giác đề phòng, vì biết chắc thế nào địch cũng đánh, nhưng đánh kiểu nào thì chưa dự đoán được.

Đối với Ban Tuyên huấn huyện, lãnh đạo Ban chủ động cho chuyển đại bộ phận vào khu vực rừng lá và chà là (gần Trường Chính trị). Ban phân công anh Chín Thuấn (cán bộ phụ trách thông tấn - báo chí) và tôi (Trưởng Văn phòng Ban) ở lại điểm Tuyên huấn cũ (điểm gần đám lá “ông Hai Khòm” đã từng bị địch càn vào một lần rồi, và chúng bị “đổ máu” tại Văn phòng Ban - chết và bị thương 3 tên, do anh Ba Xuân, Phó Trưởng Ban gài trái nổ dưới thạp cá kèo, địch “tham ăn” nên vướng trái). Sở dĩ, chúng tôi ở lại điểm này vì Thường trực Huyện ủy và nút “giao bưu” cũng ở cách chúng tôi không xa, để tiện quan hệ làm việc với Văn phòng Huyện ủy và tiếp nhận kịp thời thư từ, công văn chỉ đạo của cấp trên và cấp dưới gửi về.

Hôm xảy ra sự việc “bom 7 tấn”, lại có thêm chị Hai Tri Phương, cán bộ Ban Tuyên huấn tỉnh được Ban phân công đi công tác điểm ở Ba Tri. Chị muốn ở cùng với chúng tôi để nắm tình hình cho tiện, kịp thời báo về Ban tỉnh.

Sáng sớm hôm đó (4-11-1971), sau khi ăn sáng xong, tôi thấy con “đầm già” và tiếp theo là con “đầu láng” đến quần đảo khu vực cơ quan đang ở, nên cùng với chị Hai Tri Phương ra “công sự” phòng động (anh Chín Thuấn đi xuống “điểm dưới” của Ban Tuyên huấn do yêu cầu công tác). Tôi đang trèo lên ngọn cây duối quan sát phía cánh đồng giáp rừng, xem có hiện tượng gì không, bỗng nghe có tiếng Đakôta từ hướng Bình Đại bay qua. Tôi nhìn kỹ, thấy có mấy vệt sáng dưới lườn máy bay, kèm theo âm thanh lạ “khè khè” như bét đèn đang cháy… Một tiếng nổ kinh hồn phát ra cùng với đất, cây, cành, lá… bay loạn xạ… và hất tôi văng xuống nắp “công sự”.

Vừa dứt tiếng bom thì hai cặp “cá lẹp” lao xuống phóng pháo. Sau đó là một đàn trực thăng chở quân xuất hiện. Tôi nói với chị Hai: “Chắc là tụi nó đổ quân xuống rồi!?”. Điểm đổ quân cách chúng tôi trên 200m. Từ “công sự” chui lên, chị Hai hỏi tôi: “Cậu nhớ coi còn cái hầm bí mật nào ở gần, để chị em mình xuống?”. Tôi bảo: “Có! Nhưng hầm bí mật nằm ở mé rừng, phải đi ngược ra, nó dọn bãi kiểu này, sợ nó dẫm nát hết!”. Tôi liền dẫn chị Hai “long mương” chạy về hướng đơn vị đặc công, và nói với chị: “Sống chết gì, chị em mình cũng phải bám anh em đặc công!”.

Khi gặp anh em đặc công thì anh em cũng đang “phòng ngự” ở một “công sự” không có nắp, nước đầy đến cổ, lại chứa đến 5 người rồi. Ý của chị Hai Tri Phương muốn cùng tôi và anh em ở chung “công sự”, nhưng tôi thấy bất tiện nên nhờ anh em hướng dẫn cho chị Hai đến ở một công sự có nắp, còn tôi thì ở chung công sự không có nắp cùng với anh em, tổng số là 6 người. Cùng ở chung công sự với tôi có: Thìn (y tá của đơn vị đặc công huyện, quê An Bình Tây, Gắt (cán bộ Ban Binh vận huyện, quê Mỹ Nhơn), Nghĩa (nhân viên Ban Chính trị Khởi nghĩa, quê Mỹ Thạnh), Em (con trai đồng chí Ba Lập, ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, quê An Bình Tây, mới đưa ra căn cứ, chưa phân công) và một tân binh của đơn vị đặc công huyện.

Vừa ổn định xong thì “bù nóc” bay tới. Chúng sà thấp và xoáy mạnh cụm dây leo đang ràng rịt nhiều lớp trên nóc “công sự” của chúng tôi.

Lúc này, bộ binh địch đã đến sát chúng tôi nhưng chúng tôi vẫn không biết (vì rừng rậm và máy bay gầm rú đến không thấy, không nghe được). Lúc chúng tôi đang trao đổi qua lại, nhận định tình hình, bất thần, từ bụi rậm (dây rau muôi và dây mây xen lẫn), cái nón sắt và chiếc khăn đỏ ở cổ tên lính xuất hiện. Nó đưa khẩu M16 về phía chúng tôi siết cò.

Theo phản xạ, tôi cút (hụp) ngay xuống nước, tay đưa chiếc bòng (ba lô) lên đầu, nghĩ là sẽ “kết thúc cuộc đời” hôm nay! Từ dưới nước, tôi nghe rõ từng tiếng “hự” của anh em mình bị trúng đạn… Không nín thở được nữa, tôi thoắt vọt lên cũng vừa lúc địch thay băng đạn mới. Thìn và Gắt cũng vọt lên cùng lúc với tôi, mỗi người “bò” một hướng. Băng đạn thứ hai xé dây, lá rừng rớt trên lưng khi tôi vừa ra khỏi công sự chừng 3-4m, nhờ bụi rậm nên địch không còn nhìn thấy và đuổi theo được.

Tôi vén dây rừng “bò” thêm một đỗi nữa, biết đây là đất của đặc công, lựu đạn gài rất nhiều, nên tôi trụ lại nằm nghỉ, nghe ngóng. Địch bắn xối xả. Đạn từ máy bay “cá lẹp” bắn xuống, pháo từ quận Ba Tri, Giồng Trôm bắn qua… Khoảng hơn 5 phút sau, nghe liên tiếp 3 loạt đạn dài tại hướng “công sự”. Sau đó mới biết, 3 chiến sĩ của chúng ta đã hy sinh nhưng bọn giặc vẫn dã man nã súng hành hạ thi thể họ…

Lúc địch vừa rút, các anh em đặc công bám về, thấy xác Nghĩa hơi giống tôi, có người la: “Tụi bây ơi! Vào đây phụ! Tám Trị chết rồi!”.

Nghe biết anh em mình, tôi lên tiếng: “Tao còn đây!”. Vậy là Nghĩa, Em và một tân binh đặc công đã hy sinh tại công sự không nắp!

Chung cuộc, trận càn kết hợp với bom 7 tấn dọn bãi kỳ này xem như địch đã đánh gần trúng điểm; cán bộ, chiến sĩ ta hy sinh trên 10 đồng chí (kể cả quân sự và dân chính). Lỗ bom 7 tấn không lớn, không sâu bằng bom B57 nhưng có tác dụng “phát quang” một khu rừng rộng trên dưới 3ha, tạo bãi cho trực thăng có thể đổ hàng trăm quân xuống cùng một lúc ở giữa rừng.

May mắn, tôi và chị Hai Tri Phương an toàn. Chị Hai tâm sự: “Nếu không nghe lời cậu thì trận này, chị em mình cũng đã chết tại hầm bí mật hoặc tại lỗ công sự không nắp đó!”.

Kiểm tra lại cái bòng của mình: quần áo, mùng, võng… đều bị đạn xuyên qua. Chỉ tiếc chiếc radio S-tăn-da của anh Chín Thuấn cho tôi mượn chép tin đọc chậm và theo dõi dài hàng ngày bị rớt, địch thu làm… “chiến lợi phẩm”.

Xuân về, kể lại vài kỷ niệm khó quên của một thời chinh chiến, thay cho nén tâm hương tưởng nhớ về đồng chí, đồng đội đã mãi mãi ra đi về cõi vĩnh hằng vào tuổi thanh xuân của cuộc đời để cho chúng ta có được cuộc sống đẹp như ngày hôm nay.

Nguyễn Quang Trị

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN