Kỳ tích thầm lặng của những người phụ nữ bình thường

08/07/2016 - 07:28

Nhà báo Lê Chí Nhân (thứ 7, từ trái sang) tại buổi họp mặt Ban Liên lạc Ban Tuyên huấn Khu ủy Khu 8 lần thứ nhất tại TP. Hồ Chí Minh. (Ảnh tư liệu)

Tôi may mắn có mặt trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ ở ngay trên đất Bến Tre. Và càng may mắn hơn, cho đến hôm nay tôi còn tồn tại trên cõi đời này, trong khi hàng trăm anh chị em, bạn bè, đồng chí, đồng đội đã ngã xuống vì sự nghiệp độc lập, tự do của dân tộc.

Sở dĩ tôi có làm được một số việc có ích cho đời là do sự nỗ lực của bản thân tôi, nhưng còn một yếu tố rất quan trọng khác, đó là sự cưu mang, đùm bọc, chở che (thậm chí cứu tôi thoát khỏi những lần chết trông thấy), giúp đỡ, ủng hộ hết mình của đồng bào, mà trước hết là các bà mẹ, người chị, người em. Những dòng sau đây sẽ không thể kể hết tên, cũng như sự việc và tình cảm của từng người. Tôi tâm niệm suốt đời không bao giờ quên công ơn ấy. Xin kể lại sau đây những mẩu chuyện nhỏ về một số nhân vật, một số sự việc theo dòng thời gian.

***

Thời ấy vào khoảng năm 1950, ở vùng Hòa Thinh, huyện Bình Đại, theo kế hoạch De la Tour, quân Pháp phá rừng, làm con lộ ven sông Ba Lai, đóng đồn thành tuyến, và tiến hành chính sách bình định, khủng bố ác liệt.

Tôi được lệnh về bám rừng Cái Muồng và xã Lộc Thuận để bung ra toàn vùng. Tôi đem theo bộ phận in li-tô để in tài liệu tuyên truyền. Bị giặc càn, mực in và giấy hư mất. Mực để viết li-tô rất hiếm, khó mua, cũng như giấy là hàng quốc cấm, chỉ tìm mua được ở Sài Gòn. Tôi tìm đến cô giáo Liên đang dạy ở Trường tiểu học Lộc Thuận. Khó khăn như vậy mà cô vẫn đáp ứng được, cô đã giúp tôi in tài liệu tuyên truyền cho toàn vùng. Tôi còn giao cho cô vận động trên mười giáo viên để tổ chức cơ sở trong giáo giới.

Giặc vây ráp, phục kích đêm ngày. Một buổi sáng bỗng nhiên trong các ngăn kéo bàn của thầy cô giáo đều có truyền đơn của Việt Minh. Các thầy cô xanh mặt, im lặng. Họ chăm chú đọc rồi giấu đi. Không kềm chế được, họ tìm người thân bàn bạc. Nên giấu hay báo cho giặc? Cuối cùng họ thống nhất là không báo, vì sợ sẽ thêm rắc rối. Ít hôm sau lại có bức thư khác để trong mỗi tủ, gửi riêng cho mỗi thầy cô, hoan nghênh việc không báo cho giặc, và gợi ý nên dạy tốt, không dạy tài liệu phản dân, hại nước. Các thầy cô lại tìm người thân bàn bạc và cho rằng dạy tốt thì có thể làm được.

Chuyện xảy ra ở trên đều do mưu trí cô giáo Liên. Chỉ một thời gian ngắn, cô vận động được các thầy cô giáo tham gia kháng chiến. Nhờ đó cơ sở cách mạng trong giáo giới được phát triển rộng ra một số xã, ảnh hưởng đến hàng ngũ giặc.

*

Đêm ấy, vào đầu năm 1952, tôi đi một mình từ vùng địch về căn cứ dưới trời mưa tầm tã, gió lạnh, do đó tôi bị cảm nặng, sốt cao, vọp bẻ không còn đi được. Tôi bèn bám theo trục lộ chính và vào nhà bà Mười. Chồng bà là ông Nam - hương quản ấp. Nhà chỉ cách hàng rào bót ngã tư Lộc Sơn khoảng 100 mét. Ông bà thấy tôi áo quần ướt sũng, lẻn vào nhà nên hết hồn. Ông nép sau cửa coi chừng giặc. Bà đưa khăn cho tôi lau khô, rồi lấy dầu cạo gió cho tôi. Đỡ lạnh, tôi từ giã gia đình để về căn cứ. Bà can: “Con bệnh thế này, làm sao về tới rừng nổi. Phải bơi qua hai, ba con rạch lớn, lội lầy mấy cây số mới tới rừng Cái Muồng. Làm sao mà đi thấu!”.

Bà quyết ngăn lại, rồi nói như ra lệnh: “Con ở lại, hết bệnh sẽ đi. Có chết thì chú thím cùng chết chung!”. Ông làm thinh vì sợ lũ giặc ở đây ác ôn khét tiếng, chúng nó mới bắn chết và chặt đầu một loạt cán bộ.

Thật tình lúc này tôi đi không nổi nữa. Tôi chỉ còn trông cậy ở tấm lòng yêu nước của ông bà và sự quen biết mà thôi.

Sáng sớm hôm sau, ông để sẵn một lít rượu, một đĩa xoài sống ngay tại bàn trước cửa, ngồi lai rai để gác lính. Có mấy tên lính bót qua lại. Ông rủ vô nhậu chơi. Bà thì nấu cháo cảm cho tôi, ra chợ mua thuốc cho tôi uống, nhưng bệnh tình tôi không giảm. Bà hỏi tôi bây giờ làm sao? Tôi nói chỉ có cách mời thầy thuốc đến tiêm cho vài mũi thuốc. Nhưng có thể rước thầy được không?

Bà bảo:

- Làm sao con hết bệnh là được. Con tin ai, thím tin người ấy.

Tôi chỉ y tá Khuy có một chân giả ở chợ ngoài. Ông là người có tinh thần yêu nước, làm y tá cho chúng nó, vừa là thầy thuốc giúp dân, vừa là người tiếp tế thuốc cho phía bên mình.

Nghe vậy, bà lè lưỡi:

- Trời ơi! Ông đó sao?

- Dạ, ông đó tốt, có thể yên tâm cậy nhờ được.

Thế là trưa hôm đó, ông Khuy đến chích thuốc cho tôi. Đến chiều tối thì cơn sốt hạ dần. Ông bà chủ nhà bảo tôi ở lại vài hôm để trị bệnh cho thật mạnh, rồi mới ra căn cứ. Ngôi nhà vợ chồng bà má Mười hôm nay vẫn còn nguyên chỗ cũ, gần sát nền bót chánh của địch.

*

Năm 1957, đêm tháng 4 âm lịch, trăng sáng như ban ngày. Tôi đang ở trần ngồi đâu lưng ở trên giồng, bàn công tác với một đoàn viên thanh lao, (Hai Nhơn) bỗng tên cảnh sát Nhơn dẫn một trung đội dân vệ từ trong hàng rào xuất hiện cách chúng tôi 5 thước và nổ súng. Tôi chạy, chúng đuổi theo. Chạy khoảng 300 mét, tôi vào được khu vườn của bà Năm Điện, ở gần lộ mới, đưa tay kéo nắp hầm bí mật. Nhưng rủi đứt dây. Chết rồi! Giặc tràn tới bắn đùng đùng. Tôi vọt ngang nhà chị Chinh, vợ đồng chí Mảnh một cán bộ nội tuyến lấy bót tề xã Lộc Thuận đã hy sinh. Chị kéo tay tôi, bảo: “Chú cứ vô đây”. Chị dỡ vách đôi, tôi chui vô an toàn. Giặc lục xét cả xóm, không tìm ra tôi.

Từ đó, nhà chị Chinh, nhà ông Sáu Tường, ông bà Hai Chúng, ông bà Bảy Chỉnh, ông Bảy Nhi, ông Bảy Hiệu, ông bà Bảy Ruộng, ông bà Hai Sơ, bà Năm Nghệ, anh Quý, cô Tám Biếu… làm rất nhiều kiểu hầm bí mật cho tôi ở cả mùa mưa và mùa nắng, có nơi sát bót địch khoảng 100 mét.

Trong tình thế cực kỳ khó khăn đó, tôi còn sống sót là nhờ dân. Tôi đã xây dựng được chi bộ B (chi bộ toàn đảng viên hợp pháp), hầu hết là nữ, sống và hoạt động trong thế hợp pháp. Số cán bộ này đã duy trì và phát triển phong trào khá vững cho đến trước ngày Đồng khởi.

Một buổi trưa, tôi ở lại nhà cô Bảy ở ấp Linh Phụng, xã Long Mỹ, đang ngồi trên võng trong buồng, viết tài liệu. Bỗng cô Bảy bước vô, giựt dây treo võng:

- Tư, lính tới!

Tôi vội vã vừa thu gọn tài liệu, vừa nói với cô:

- Cô bình tĩnh!

- Con cũng bình tĩnh và cẩn thận.

Ở đây không có hầm bí mật. Thật nguy! Tôi đành phải “tàng hình”.

Tổng đoàn dân vệ Hương Điểm do cảnh sát Vóc vây nhà tôi ở. Nó hỏi:

- Sổ nóc gia đâu?

- Thưa đây ạ!

- Ai tên Te?

- Dạ tui, Sáu Te, con bà già.

- Ai tên Nghé?

Bà chỉ con trai út đang đứng bên cạnh.

- Còn ai nữa?

- Thì trong sổ nóc gia này, chỉ có chừng ấy người thôi.

Trước sự bình tĩnh của bà và cả gia đình, chúng không nghi ngờ gì nữa. Vừa bước ra khỏi nhà, một tên bực dọc thốt lên:

- Đ.M. Sao nó báo mới đây có người lạ mà.

Chúng vừa rút khỏi, tôi vọt ra ngoài an toàn.

*

Giữa năm 1959, Văn phòng Huyện ủy dời về xã Lương Hòa. Tôi kẹt chỗ ở quá, phải về ở tại nhà chị Ba Định. Mẹ chị Ba gần 90 tuổi, lúc tỉnh, lúc lãng trí. Bà ở gian trước của nhà trên, còn tôi thì ở trong buồng. Lúc tỉnh, bà vô nhìn tôi và nói: “Con yên tâm mà ở. Tụi nó biết bà như vầy, không nghi gì đâu”. Trong lúc đó, anh Hai Lân được Tỉnh ủy cử về chuẩn bị thay chị Ba Định. Anh ngại, nên ra sau vườn ở. Cô Ánh và chú Hòa, cháu của chị Ba, đưa anh lên ở ngọn dừa. Nhưng khổ nỗi anh lên được, nhưng tối lại xuống không được. Chú Hòa phải lấy dây buộc eo ếch thòng anh Hai Lân xuống dần, vừa leo, vừa dùng đầu đội đít, nương cho anh xuống. Hú hồn! Từ đó anh không leo lên ngọn dừa nữa, mà ở dưới đất sau vườn nhà chị Ba. Tôi thì ban ngày leo ở trên ngọn dừa đó. Các cô Ba Ánh, Tám Lài, Chín Lan, Ba Khéo, Tư Bông, Năm Đen vừa cảnh giới bảo vệ, vừa đem cơm nước và thư từ hằng ngày cho tôi. Sau này cô Lan chết, được đem về chôn ngay gốc dừa mà tôi từng ở trên ngọn nhiều ngày.

Cuối năm 1960, ta đã giải phóng được 72 xã, 500 ấp trong số 115 xã, 700 ấp. Ngành tuyên huấn tỉnh Bến Tre lúc này có địa bàn để phát triển. Để có tài liệu tuyên truyền, cần có nhiều giấy để in truyền đơn, báo chí, sách văn nghệ, cần có điện đài, máy ảnh, các phương tiện kỹ thuật khác cho công tác tuyên huấn. Tất cả vật tư kỹ thuật như máy in, chữ chì, giấy sáp, mực in, giấy, đèn pin, phim, giấy ảnh đều là đồ quốc cấm. Trong các vật tư cần thiết ấy có những thứ nặng nề như máy in, chữ chì, có thứ cồng kềnh như giấy, rất khó giấu, dễ bị địch phát hiện.

Chúng tôi phải nhờ anh Năm Cao, Tư Chi mua máy in, chữ chì ở cơ sở in tại Sài Gòn. Vợ chồng anh Hai Lôn ở Phước Hiệp dùng ghe tải lớn chở về Mỏ Cày. Anh Năm Bộ, Bảy Tiểu dùng đò máy chạy dọc sông Hàm Luông ra biển, rồi đưa về Thừa Đức. Cuộc vận chuyển bất hợp pháp hoàn toàn trong vùng kiểm soát gắt gao của giặc đều nhờ sự giúp đỡ của quần chúng.

Cô Sáu Thu (Sáu Vĩ), người xã Châu Bình là người thường xuyên ra vào thị xã Bến Tre và Mỹ Tho để mua tất cả những thứ “quốc cấm” ấy bất chấp sự nguy hiểm đến tính mạng, để tiếp tế cho ban tuyên huấn.

*

Trong kháng chiến chống Mỹ ở Bến Tre còn có những đơn vị vũ trang, đơn vị súng cối 82, đơn vị biệt động toàn là nữ. Hàng ngàn nữ thanh niên xung phong thoát ly phục vụ chiến trường của tỉnh, của khu và miền. Bởi họ là nữ, nên ngoài nhiệm vụ chiến đấu, chị em còn có thiên chức làm mẹ, phải chịu nhiều hy sinh.

Chị Thủy, vợ anh Đoàn Tứ cán bộ của khu, vừa công tác, vừa nuôi con ở An Thới. Chị đã lấy thân mình phủ lên cháu Phượng, đứa con mới sinh, khi bom napal cháy trên lưng chị.

Trên đường công tác ở Bình Khánh, chị Tám đang ẵm cháu Mẫn 6 tháng tuổi thì gặp pháo từ Mỏ Cày bắn tới. Chị nhào xuống ao, phủ lên đỡ đạn cho con. Một mảnh pháo ghim vào bàn chân đứa con. Chị lo chạy chữa, băng bó cho con mà quên mình cũng đang bị một vết thương ở bên hông.

Chị Yến bị giặc bắt giam trong khám Lá Bến Tre cùng với đứa con nhỏ của mình. Cháu bé Hòa Bình lớn lên trong nhà lao bằng cơm tù của mẹ.

Chị Tám Chữ là cán bộ bất hợp pháp của Ban Tuyên huấn Khu 8. Trong hoàn cảnh chiến trường ác liệt, không thể nào mang cháu mới 5 tuổi theo được. Một chị không bà con thân quen gì với chị ở Cái Bè đã nhận cháu nhỏ về nuôi giúp.

Hầu hết cán bộ phụ nữ ở Bến Tre có con, để rảnh rỗi công tác và cũng để tránh rủi ro bom pháo nguy hiểm, thường gởi con về mẹ già, về chị em, bà con, bạn bè nuôi hộ. Thế nhưng, những người gánh vác việc nặng nhọc đó vẫn âm thầm hy sinh, chẳng bao giờ kể công với ai, hay đòi hỏi một chút gì.

Xin được nói đôi lời về bà mẹ ruột của tôi. Năm 1958, chị Hai tôi, một cơ sở cách mạng từ trần để lại cho bà chăm sóc ba đứa cháu ngoại mồ côi từ 5 đến 2 tuổi. Năm 1959, chị Ba tôi chết, bà ẵm đứa cháu ngoại mồ côi mới vừa 4 tháng tuổi về nuôi để ba nó, tức anh rể tôi, cán bộ trong quân đội yên tâm công tác.

Sau Đồng khởi năm 1960, chiến trường ngày càng ác liệt, bà nhất quyết bảo vợ chồng tôi gởi cháu Hạnh mới dứt sữa về cho bà nuôi, rồi liên tiếp đến các cháu sau mới giáp thôi nôi cũng được bà rước về nuôi hết. Vợ tôi hy sinh, thế là một tay bà phải nuôi bảy đứa cháu nội, ngoại mồ côi từ lúc còn đỏ hỏn, trong lúc tuổi bà đã ngoài 60.

(Kính tặng mẹ tôi và những bà mẹ, người chị, người em gái thân yêu đã cưu mang, che chở, giúp đỡ tôi trong những ngày gian khổ)

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN