Long đong đời muối

29/09/2010 - 08:24
Thu hoạch muối ở xã Bảo Thạnh (Ba Tri). Ảnh: HƯƠNG THỦY

Tôi đến xóm Bến Đường Tắt vào một ngày mưa ẩm cuối tháng 8, khi đất trời còn vương lại cái đuôi ướt át của cơn bão số 3. Xóm này thuộc ấp Tân Thành, xã Tân Thủy, là một trong những trọng điểm sản xuất muối của huyện Ba Tri.

Mùa mưa, diêm dân nghỉ việc, cánh đồng muối mênh mông, vắng bóng người, chỉ có đàn chim lắc nước đang cần mẫn tìm mồi trong làn sương mờ đục.
Ba Tri có 3 xã sản xuất muối rất lâu đời là Bảo Thạnh, Bảo Thuận và Tân Thủy, với tổng diện tích sau nhiều phen thăng trầm theo giá muối, chuyển đổi thành vuông tôm, nuôi cá kèo... nay còn lại khoảng trên dưới 1.000ha. Diêm nghiệp đã từng giúp người ta từ xóa đói giảm nghèo, tiến lên giàu có, muối Ba Tri đã từng theo ghe thương hồ đi khắp mọi miền đất nước.
Muối trúng mùa nhưng rớt giá!
Muốn tìm hiểu, tôi nghĩ ghé nhà anh Hai Nguyễn Văn Rọt là chắc ăn nhất. Anh Hai Rọt sinh năm 1949, tính khí dễ gần, nói năng xởi lởi. Thời kỳ quân quản năm 1975, anh giữ chức Trưởng Ban quân quản, rồi Chủ tịch thị trấn Ba Tri. Nghỉ hưu, anh trở về với nghề muối của cha ông. Hình như cuộc sống anh gắn chặt với muối. Căn nhà nền đất vách lá đơn sơ của anh nhìn thẳng cánh đồng muối, sáng mở cửa bước ra là nhìn thấy muối, cả gia đình đều làm muối, đến mấy cô con dâu cũng là dân gánh muối chuyên nghiệp.
Sau vài tuần rượu “ngừa phong đón gió”, anh chân thành tâm sự: Vụ trước, năm 2008-2009, tuy sản lượng muối thấp nhưng dân ở đây đỡ khổ lắm. Vì lúc ấy muối rất được giá, khoảng 95 ngàn đồng, thậm chí có khi 105 ngàn đồng/giạ mà có người đã lạc quan gọi là thời kỳ muối lên ngôi. Muối là nghề đi liền với nắng, nên mùa muối bắt đầu từ lúc dứt mưa năm trước đến sau mưa năm sau, độ từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Anh kể, làm ra được hột muối thật khổ ải mà vốn liếng bỏ ra cũng nhiều. Nào là đầu tư máy bơm, dầu diesel chạy máy, xa quạt đạp nước, công đắp bồi bờ thủ công, thuốc diệt, ngừa cá, nhất là cá lưỡi húa, một loại cá tựa như cá kèo hay đào hang, xoi bờ làm đi nước ruộng, muối sẽ thất thoát. Rồi còn phải “trạc khu”, đây là công đoạn khó, đòi hỏi người nhiều kinh nghiệm, dùng ống lăn, trang cán sao cho nền ruộng dẽ dặt và phẳng đến mức tuyệt đối. Muối giống rải để dẫn dụ muối kết tinh thì có sẵn do năm trước dành lại. Khi có muối rồi thì nào là cào, gánh vô chòi. Lúc bán thì phải gánh từ chòi xuống ghe. Tất cả các công đoạn đều ướt đẫm mồ hôi gian khó. Anh nói thêm, hồi trẻ còn làm nổi, giờ lớn tuổi, việc nào cũng mướn. Công làm muối hiện nay là 2 triệu đồng/tháng, không cơm. Đừng tưởng 2 triệu đồng/tháng là nhiều vì lao động nghề muối có đặc thù của nó, không như công phụ hồ, công cấy hay đào ao, cuốc liếp... Làm công muối thì tự lo, chủ không bao nước đá hay trà lá, bánh ngọt cử trưa. Sáng xách gà-mên cơm, phích nước đá đi thẳng ra đồng, cong lưng đạp xa quạt nước giữa nắng chang chang không một bóng cây, đến chiều mờ mịt thì lọ mọ về. Công gánh từ 5 đến 7 ngàn đồng/giạ, tùy thương lượng và khoảng cách xa gần.
Năm ngoái, nắng nhiều, mùa muối thắng lớn. Nhưng anh Hai Rọt rầu rĩ cho hay: Niên vụ 2009-2010 này, diêm dân nào cũng thu hoạch cao, nhưng muối lại quá rẻ và ế ẩm. Dựa vào đó, thương lái ra tay o ép quá đáng. Họ ép bằng 3 cách. Thứ nhất là giá, hiện chỉ 35 - 37 ngàn đồng/giạ, sau khi trừ công gánh, người bán chỉ còn 30 ngàn, chưa bằng 1/3 năm rồi, trong khi giá các mặt hàng khác đều tăng. Thứ nhì là họ dùng cái thùng đong muối to hơn thùng lúc trước. Anh nói, hồi xưa thùng đong đựng chỉ 32kg muối, người gánh cho vào 2 đầu gióng, gánh đi khỏe re. Còn bây giờ, với cái thùng mới của lái muối thì phải 2 người gánh phân ra 4 đầu gióng mới có thể gánh nổi, vì nó chứa tới 50kg! Thương lái muối không cần đi đâu xa, qua đến Mỏ Cày, Chợ Lách và bán giá 30 ngàn đồng/thùng cũng vẫn lời.
Khó khăn chồng chất lên những đôi vai đen đúa chai sần của diêm dân cùng với gia đình họ. Anh Hai nói như than:
- Ngày mai đám giỗ ông già, không kêu lái lại mua thì lấy tiền đâu làm đám!? Từ hôm mưa tới nay nghỉ làm muối, con dâu nhà tôi cũng không có ai kêu đi gánh, tất cả chi tiêu gia đình đều cậy vô bà vợ chịu khó mua bán cá ngoài chợ Tân Bình. Mấy đứa cháu nội nhập học, còn phải lo tiền áo quần, tập vở... tất cả đều trông hết vào muối. Muối cũng giống như ớt, ăn cơm thiếu nó không ngon nhưng ăn nhiều quá thì không được, mà lấy nó thay cơm lại càng không thể!
  Ông bà xưa có nói, bọn “lừa thưng tráo đấu” là hạng vô liêm, việc thay đổi thể tích thùng đong muối đã là tàn nhẫn. Nhưng tàn nhẫn nhất của thương lái mua muối o ép diêm dân là cách thứ 3: “cho bạc muối”. Người làm muối nào dù hết hoặc chưa thu hoạch, muối còn nằm ngoài ruộng, mà gia đình hữu sự, cần tiền xoay trở, đến vay nóng, sau khi làm giấy tờ đều được cung ứng tiền ngay. Có điều là một giạ chỉ... 25 ngàn đồng mà thôi! Khi nào muối về chòi thì họ đến lấy.
Giữa chừng câu chuyện, có anh Bảy Khới sang chơi. Nhà anh ở ấp Tân Hòa, cùng xã, năm nay 65 tuổi, tính tình vui vẻ, là một diêm dân kỳ cựu của làng này. Niên vụ vừa qua anh làm 4 công rưỡi muối. Anh cho biết, giá dầu diesel chạy máy bơm nước cứ tăng hoài, thời giá 14.500 đồng/lít. Tính toán chi phí hết, hiện anh còn nợ tiền mướn công làm muối 5 triệu đồng, lời đâu không thấy. Tôi hỏi: Nếu làm muối lỗ lã sao không chuyển qua nuôi cá kèo, nghe nói mau giàu lắm? Anh Bảy lắc đầu: Sau khi nuôi cá kèo thì miếng đất muối đó sẽ hư luôn, do cho cá kèo ăn rong xanh và phân bò. Làm muối lại thì muối sẽ đen thui. Trong xã đã có nhiều người mướn máy kobe đào ruộng muối làm vuông nuôi tôm, bị thất bại, lại lấp vuông trở về với muối.
Sẵn tiện, tôi hỏi luôn: Các anh có biết quyết định của Chính phủ về việc thu mua, tạm trữ muối cho diêm dân không? Hai anh trả lời: Biết chứ sao không! Nông dân bây giờ tri thức lắm đó chú em. Đêm nào chẳng xem thời sự trên truyền hình, 4 giờ rưỡi sáng nào chẳng nghe chương trình nông thôn trên Đài Phát thanh của thành phố Hồ Chí Minh. Người làm muối rất hoan nghinh, phấn khởi trước quyết định này. Hình như mới chỉ thực hiện ở Cần Giờ, Bạc Liêu gì đó thôi. Còn ở đây thì chưa thấy, nói gì đến chuyện tiếp cận được nguồn vốn đó.
Đâu là giải pháp?
Hỏi về giải pháp nào cho đời diêm dân đỡ khổ, các anh kiến nghị: Hạn chế nhập khẩu muối, ưu tiên sử dụng muối nội sản xuất. Nếu cho rằng muối ta không dùng được trong y dược hay công nghiệp, thì hướng dẫn cho dân biết kỹ thuật làm ra muối ấy. Tính chịu khó và sự thông minh, bắt nhịp kịp thời đại của người mình đâu thua ai. Đồng thời, Nhà nước hỗ trợ về giá. Ngân hàng xem xét hạ lãi suất. Đó là chuyện vĩ mô, còn việc nhỏ mà không nhỏ là: Cơ quan kiểm định đo lường phải cho ra đời quy chuẩn về dụng cụ cân đong muối, giao cho cơ quan quản lý thị trường theo dõi thực hiện. Nếu không thì mua bán muối cứ tính bằng ký lô.
Bảy Khới và Hai Rọt là hai lão diêm dân xã Tân Thủy (Ba Tri). Có thể ý kiến của hai anh là chủ quan, không đại diện cho tất cả diêm dân ở 3 huyện Ba Tri, Thạnh Phú, Bình Đại. Dù sao, ý kiến ấy cũng đáng suy ngẫm. Các anh cũng long đong như vòng đời hạt muối trắng. Bờ ruộng muối mãi mãi thẳng tắp, mặt ruộng muối bao giờ cũng tuyệt đối phẳng phiu, thế nhưng cuộc đời của những người làm ra hạt muối sao cứ vẫn thăng trầm, gập ghềnh, khúc khuỷu.
 

Tâm LX

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN