Một mũi giáp công tuyệt đẹp

03/05/2013 - 07:49
Dinh Tỉnh trưởng Kiến Hòa ngày nay là Nhà Bảo tàng tỉnh - nơi đã diễn ra nhiều “trận đánh trước” lịch sử. Ảnh: H.Vũ

Mở màn đợt II cuộc Đồng khởi năm 1960, các nghĩa binh yêu nước dưới sự chỉ huy của cảnh sát Chống đã nổi dậy khởi nghĩa diệt ác ôn, đốt cháy đồn bót địch sáng rực vùng đất 3 châu.

Mở màn đợt II cuộc Đồng khởi năm 1960, các nghĩa binh yêu nước dưới sự chỉ huy của cảnh sát Chống đã nổi dậy khởi nghĩa diệt ác ôn, đốt cháy đồn bót địch sáng rực vùng đất 3 châu.

Cuối tháng 4 năm 1975 tiếng bom của phi công Nguyễn Thành Trung ném xuống Dinh Độc lập báo hiệu sự cáo chung của chế độ Sài Gòn. Giữa 2 sự kiện ghi mốc son đỏ là hàng loạt cuộc binh biến, khởi nghĩa của các cơ sở nội tuyến tiêu diệt đồn bót và bọn ác ôn mang súng trở về với nhân dân. Đánh địch bằng binh vận là một mũi tiến công sắc bén lợi hại, phát triển rộng mạnh phối hợp tuyệt vời với mũi vũ trang và chính trị góp phần rất lớn vào sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ giải phóng quê hương ở Bến Tre cũng như cả miền Nam.

Chiến sĩ cách mạng trong lòng địch

Theo lịch sử Đảng bộ  tỉnh Bến Tre, trong đợt II của cuộc Đồng Khởi năm 1960, Tỉnh ủy chọn hướng chính là huyện Giồng Trôm. Điểm chỉ đạo gồm 5 xã nối liền nhau bên bờ sông Ba Lai có phong trào quần chúng mạnh, có cơ sở nội tuyến trong các đồn dân vệ. Đặc biệt, ở đồn Châu Phú ta móc nối được với nội tuyến là Nguyễn Văn Chống thường gọi là cảnh sát Chống, đại đội trưởng lính công giáo. Chiều ngày 24 tháng 9 năm 1960, theo lịch của cảnh sát Chống binh lính trong đồn gom súng lại để “bảo an quận đến kiểm tra”. Cùng lúc, 1 tiểu đội vũ trang của C261 giả làm lính bảo an đã kéo thẳng vào đồn tước súng, bức hàng. Từ đồn Châu Phú, cảnh sát Nguyễn Văn Chống cùng với lực lượng Vũ trang cách mạng tiến sang gọi đầu hàng chiếm bót Nhà thờ Châu Phú và đồn Châu Thới.

Cuộc khởi nghĩa do cảnh sát Chống chỉ huy đã mở màn cho phong trào khởi nghĩa của sĩ quan binh lính quay súng diệt địch. Tính từ năm 1960 đến năm 1975, ở Bến Tre đã tổ chức được trên 2.000 cơ sở trong lòng địch với 3 mức độ: đồng tình, cảm tính, nội tuyến. Các cơ sở này đã độc lập tác chiến hoặc phối hợp với bộ đội, du kích tiêu diệt trên 500 đồn bót, bức hàng 350 đồn, giết chết 2.000 tên địch. Để lập được chiến công to lớn đó, các chiến sĩ cách mạng trong lòng địch đã vượt qua biết bao khó khăn, thử thách. Các anh phải khôn khéo đối phó với sự kềm kẹp, theo dõi gắt gao của bọn chỉ huy và an ninh quân đội. Có người vì một chút sơ hở hoặc bị bọn chiêu hồi phản bội khai báo đã bị địch bắt tra tấn, tù đày. Là chiến sĩ cách mạng nhưng phải đứng trong hàng ngũ địch nên lúc ở căn cứ khi hành quân hoặc ra mặt trận, quả pháo, trái mìn, làn đạn của Quân giải phóng cũng khó mà tránh được người của ta. Tù đày, thương tật, chết chóc tuy khủng khiếp nhưng đáng sợ hơn đối với các anh là mang tiếng nhơ cầm súng cho địch. Phần lớn các cơ sở nội tuyến đều xuất thân trong gia đình lao động hoặc gia đình có truyền thống cách mạng. Dưới mắt bà con láng giềng, việc các anh đứng trong hàng ngũ giặc là nhục nhã đáng bị lên án và xa lánh. Nhưng vì nhiệm vụ cách mạng giao, các anh phải cắn răng chịu đựng hiểm nguy và tai tiếng để một ngày nào đó trả được thù nhà, lập công với Tổ quốc. Xin được trân trọng nhắc tên một số cơ sở nội tuyến trong những con người đáng nể ấy:

Những năm đầu của thập niên 60, Tổng Huẩn là tên ác ôn nổi tiếng khắp tỉnh. Hắn chẳng những giết chết nhiều cán bộ và nhân dân, mà còn rất quỷ quyệt trong đối phó với cách mạng. Hắn ngạo mạng tuyên bố: dinh quận Ba Tri có thể mất nhưng căn cứ xã Diệu thuộc xã An Hòa Tây của hắn thì Việt cộng không thể làm gì được. Để tiêu diệt tên ác ôn này, ta xây dựng cơ sở nội tuyến là cháu vợ của hắn tên là Ba Sương. Sau một năm liên hệ được với Ba Sương, qua một số vụ thử thách thấy cơ sở này có thể hoạt động được, ta quyết định tiến công căn cứ xã Diệu bằng quân sự kết hợp với binh vận. Vào đêm 18-4-1964, đến giờ quy định, Ba Sương lên pháo đài làm ám hiệu cho bộ đội cắt rào bò vào đồn. Hỏa lực của ta bắn chính xác vào các lô cốt. Bộ binh xung phong chiếm đồn. Tên Tổng Huẩn bỏ trốn đã bị bộ đội tiêu diệt dưới sự chỉ dẫn của anh Ba Sương.

Trong chiến thắng vẻ vang tiêu diệt chi khu Trúc Giang năm 1972 có công lớn của cơ sở nội tuyến Lê Văn Nhân. Gần 10 năm mặc áo lính mai phục trong chi khu Trúc Giang, khi thì ở Ban 4 lúc thì ở Ban 5, anh Ba Nhân nắm chắc việc bày binh bố hỏa trong chi khu. Vì thế Ba bản sơ đồ anh vẽ chi tiết bố trí binh hỏa lực trong chi khu đã làm cơ sở chính xác cho bộ đội lên phương án đánh tiêu diệt chi khu. Đêm lịch sử 22 tháng 2 ấy, anh khéo léo cắt các dây điện nối với các quả mìn địch gài bảo vệ chi khu và hướng dẫn các chiến sĩ đặc công bò vào áp sát mục tiêu để bất thần “nở hoa trong lòng địch” Anh xông xáo bắt ám hiệu hợp đồng nổ súng tiêu diệt những tên địch còn chống trả. Một khẩu đại liên 12 ly 7 của địch trên cao điểm còn vãi đạn về phía quân ta. Ba Nhân dùng súng AR 15 bắn đạn lửa lên nơi đặt khẩu 12,7 ly chỉ điểm cho bộ đội bắn B41 tiêu diệt.

Ở một xã nghèo của huyện Thạnh Phú, có 2 anh thanh niên tên Trạng và Danh chơi thân với nhau. Xuất thân trong gia đình tốt nhưng vì sao 2 thanh niên này lại rủ nhau đi lính. Bà con làng xóm nặng lời chê trách. Cho đến một buổi sáng của năm 1965, trưởng đồn Thạnh Lại thuộc xã Thạnh Phú và nhiều binh sĩ ra khỏi đồn để đánh bài. Trạng vừa xong ca gác, giả vờ ra đồng bắt cá để dẫn du kích vào ém sát cổng đồn. Bất ngờ có 2 tên lính ở đồn khác đến chơi. Tình huống bất ngờ ngoài dự kiến nhưng không thể không hành động. Trạng nói với tên lính gác: “có 2 bạn đến chơi, anh đi mua đồ, tôi ở nhà nấu nước để tiếp khách”. Sau đó anh nhảy lên lô cốt làm ám hiệu cho du kích xông vào đồn bắt 3 tên lính trói lại. Trưởng đồn và một số lính đi đánh bài về cũng bị bắt trói. Ta thu 10 súng, dẫn 6 tù binh ra vùng giải phóng. Chiến công của Trạng thôi thúc Danh thi đua lập công. Đêm đó, Danh cùng một số tên ác ôn trong trung đội cán bộ bình định nông thôn ra ngủ dã chiến ở đầu cầu Hương Mỹ. Nửa đêm, Danh tung 5 quả lựu đạn diệt tên chỉ huy và nhiều lính bình định ác ôn. Sau trận đó, Danh bị lộ; địch thông báo truy nã, nên được điều động sang tỉnh khác. Danh tiếp tục vào lính ở Cà Mau và 1 lần nữa, anh độc lập tác chiến khởi nghĩa diệt đồn ra vùng giải phóng trở về Bến Tre. Anh tiếp tục công tác ở đội nghĩa binh thuộc Ban Binh vận tỉnh. Trong một chuyến đi công tác, Danh hy sinh, không được thấy ngày quê hương hòa bình, đất nước thống nhất như anh mơ ước.

Trong trung đội lính đóng ở bót Bờ Xoài thuộc ấp An Thạnh, xã Bình Khánh - Mỏ Cày có 4 cơ sở gồm 3 nội tuyến là anh Mười Nhì, anh Cánh, anh Đèo và một cơ sở cảm tình là anh Sanh. Đây là điều kiện để lãnh đạo tỉnh chọn bót Bờ Xoài làm điểm đánh mở màn cho chiến dịch Nam Mỏ Cày năm 1972 . Nắm qui luật địch thường đi ra khỏi đồn để tuần tra vào giác tờ mờ sáng, các cơ sở nội tuyến đã làm ám hiệu và mở cửa rào để bộ đội đặc công vào tiêu diệt đồn. Trận đánh bất ngờ làm cho địch không kịp đối phó nên kết thúc nhanh chóng. Quân ta tiêu diệt đồn cấp trung đội, làm chủ trận địa. Các cơ sở nội tuyến và cảm tình hoàn thành nhiệm vụ được giao. Duy có điều đáng tiếc là anh Cánh một cơ sở nội tuyến khi xông lên tiêu diệt khẩu đại liên địch ở lô cốt số 3 đã anh dũng hy sinh.

Cùng với các cuộc khởi nghĩa trong tỉnh, nhiều cuộc khởi nghĩa ngoài tỉnh cũng có sự góp công của những cơ sở nội tuyến trước đây do Bến Tre xây dựng. Nguyễn Thành Trung là một điển hình. Anh sinh ra và lớn lên ở huyện Châu Thành, trong một gia đình cách mạng, cha là huyện ủy viên, hai anh tham gia kháng chiến chống Mỹ. Anh được Tỉnh ủy xây dựng đưa vào hàng ngũ địch dày công mai phục để đến cuối tháng 4 năm 1975 theo sự chỉ đạo của Ban Binh vận Trung ương cục, anh lái máy bay Mỹ ném bom xuống Dinh Độc Lập. Trước đó, cuộc khởi nghĩa của nhóm sĩ quan, binh sĩ trung đoàn thiết giáp ngụy ở tỉnh Bình Dương cũng như cuộc khởi nghĩa ở Trung tâm huấn luyện dân vệ tỉnh An Giang cũng có sự góp công của cơ sở nội tuyến do Bến Tre xây dựng và chuyển về trên quản lý, sử dụng.

Những người thắp sáng niềm tin

Ngụy quân, ngụy quyền ra sức xây dựng một đội quân trung thành với chúng. Ngoài lừa mị, đầu độc, mua chuộc bằng cuộc sống vật chất, chúng còn dùng nhiều thủ đoạn rất thâm độc. Chúng đưa an ninh quân đội phối hợp với bọn chỉ huy theo dõi sát binh sĩ, cấm đoán, hạn chế tiếp xúc với gia đình, kiểm soát thư từ, cấm trại, lập tòa án binh xử nặng những binh lính có quan hệ với cách mạng. Chúng cho phép những tên chỉ huy có quyền bắn chết hoặc trừng phạt nặng binh sĩ chống lệnh hành quân. Thế nhưng quân đội Sài Gòn ngày càng rệu rã. Ở Bến Tre, năm 1960 đến tháng 4 năm 1975 có hàng chục ngàn binh sĩ, hạ sĩ quan đào ngũ. Trên 200 người là cơ sở hoạt động cho cách mạng. Điều đó cho thấy sức mạnh thần kỳ của công tác binh vận dưới sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là vai trò tham mưu tác chiến của ngành binh vận với sự tham gia của nhân dân, trong đó phải kể đến hàng vạn gia đình binh sĩ, sĩ quan ngụy.

Xác định công tác binh vận là công tác chiến lược, theo chủ trương Nghị quyết của Trung ương, Tỉnh ủy tập trung xây dựng ngành binh vận thành hệ thống tổ chức mạnh từ tỉnh đến xã, ấp. Hàng ngàn cán bộ binh vận đã trưởng thành cùng năm tháng, lập chiến công xuất sắc. Để hoàn thành nhiệm vụ đặc biệt, các đồng chí phải quyết tâm cao, mưu trí và dũng cảm. Các đồng chí phải nắm chắc hoàn cảnh, tâm trạng từng đối tượng binh lính, sĩ quan để vận động, giáo dục họ thực hiện nhiệm vụ cách mạng giao. Có khi các đồng chí phải luồn vô sát hàng rào bót để gặp gỡ, động viên, giao nhiệm vụ cho cơ sở nội tuyến. Không sao tránh khỏi trường hợp bị địch phục kích vây bắt hoặc hy sinh. Bên cạnh niềm vui khi cơ sở nội tuyến do mình xây dựng khởi nghĩa thắng lợi cũng có nỗi buồn da diết khi bị phản vận, nhiều cán bộ, chiến sĩ ta phải hy sinh. Các cán bộ binh vận nhen nhóm trong lòng sĩ quan, binh sĩ ngụy ngọn lửa yêu nước, căm thù giặc và giữ cho ngọn lửa đó âm ỉ cháy cho đến giờ G bùng lên thiêu đốt quân thù.

Có rất nhiều tấm gương cán bộ binh vận vượt qua trăm ngàn khó khăn để chỉ đạo cơ sở nội tuyến hành động thắng lợi. Xin kể ra đây một trường hợp cụ thể về chị Kiên Giang, cán bộ của Ban Binh vận huyện Giồng Trôm. Năm 1974, đồng chí Sáu Khánh ở Quân khu xuống chỉ đạo Giồng Trôm phải đánh phân chi khu Hưng Phong, còn gọi là Cồn Ốc nằm giữa sông Hàm Luông để gây khó khăn cho địch trong việc thành lập quận mới Phước Hưng. Ở Hưng Phong, ta có một cơ sở nội tuyến tên Hòa (bí danh Dân Hùng) do chị Kiên Giang tổ chức và nắm. Dân Hùng tuy dốt nhưng biết khá rõ thực lực địch và đặc biệt là có khiếu vẽ sơ đồ. Sau khi Dân Hùng vẽ sơ đồ bố trí binh hỏa lực của địch đưa ra, đơn vị đặc công của tỉnh liền lên phương án đánh phân chi khu Hưng Phong. Sau đó, địch tăng cường thêm trên 100 tên cảnh sát dã chiến. Tình thế thay đổi nhưng ta vẫn quyết tâm tấn công. Chị Kiên Giang đi đường hợp pháp đóng vai người dì được Dân Hùng dẫn vô chỉ từng cái hố chiến đấu để về báo lại với bộ đội. Sau khi báo cáo quyết tâm chiến đấu với đồng chí Sáu Khánh thì tàu đầu bằng của địch chạy trên sông Hàm Luông bắn như vãi đạn suốt 2 tiếng đồng hồ dọc bờ sông. Nhiều người nhận định kế hoạch đánh Hưng Phong bị lộ. Chị Kiên Giang bình tĩnh chèo xuồng từ Phước Long trở qua Hưng Phong để gặp cơ sở nội tuyến một lần nữa. Cơ sở dẫn chị vào đồn thì thấy tình hình cũng không có gì thay đổi nên thống nhất với cơ sở giữ y kế hoạch. Dân Hùng nói: “Trên ra lệnh đánh thì em quyết tâm hành động nếu có hy sinh là cùng, chị bảo vệ cho được lực lượng bên ngoài đừng nghĩ em phản là được”. Buổi chiều trước đêm nổ súng, chị Kiên Giang tiếp tục sang Hưng Phong đến nhà cơ sở Dân Hùng. Ở đó, chị gặp tên trưởng Cục cảnh sát mời chị xuống đồn chơi. Nhân dịp này, chị vào đồn xem xét từng khu vực của địch, nhất là khu vực chúng tụ tập đánh bài. Tối đến, chị Kiên Giang lại cùng với các chiến sĩ đặc công bò vào tiếp cận các mục tiêu, bắt ám hiệu với cơ sở nội tuyến để đến giờ nổ súng. Trong trận này, nhờ phối hợp chặt chẽ giữa quân sự và binh vận, quân ta đã diệt trên 100 tên địch, thu rất nhiều vũ khí.

Trong lịch sử tỉnh nhà về ngày trọng đại 30 tháng 4 có ghi: “Đêm 30 tháng 4 năm 1975, thiếu tá Bửu ra lệnh thiết quân luật đồng thời họp và cử các sĩ quan bàn giao tiểu khu cho cách mạng”. Hành động của thiếu  tá Bửu bộc phát hay có sự chuẩn bị từ trước. Xin nêu ra đây hồi ức của chị Hai Phong, một cán bộ binh vận tỉnh lúc đó: Rà soát trong số sĩ quan tiểu khu Kiến Hòa, tôi thấy vợ của thiếu ta Bửu ở Châu Hưng - Bình Đại có bà con với một cán bộ của ta.

Qua bà mẹ vợ của y, tôi gửi một lá thư kêu gọi thiếu tá Bửu hợp tác với cách mạng giải phóng tỉnh nhà. Sau một thời gian không nhận được trả lời, tôi tiếp tục tổ chức 2 người anh bà con bên vợ của thiếu tá Bửu lên gặp, động viên ông ta: Đây là cơ hội cuối cùng lập công với cách mạng. Thiếu tá Bửu hứa sẽ làm việc cách mạng giao trước khi chiến tranh kết thúc. Hành động của thiếu tá Bửu trong giờ phút lịch sử đó đã góp phần làm cho cuộc chiến tàn khốc trên quê hương Bến Tre kết thúc một cách êm đẹp. Hành động đó do xu thế tình hình chung nhưng cũng do sự tác động của công tác binh vận trước đó một tháng.

Trong ngành binh vận có một chức danh rất đặc biệt đó là cán bộ mật giao. Nhiệm vụ của cán bộ mật giao là thường xuyên liên hệ với cơ sở nội tuyến để truyền đạt ý kiến của các đồng chí lãnh đạo phụ trách cơ sở cũng như nhận các thông tin bí mật từ cơ sở gửi về. Các chị đóng vai trò là người dì, người cô, bạn học, có khi phải đóng vai người tình của cơ sở nội tuyến để vào đồn bót gặp gỡ cơ sở dưới cặp mắt dò xét, tình nghi của bọn an ninh quân đội. Nếu một chút sơ hở bị lộ là bị bắt bớ, tù đày. Trong 2 năm 1972, 1973, chị Tám Minh là người trực tiếp liên lạc với 5 cơ sở nội tuyến phối hợp cùng bộ đội đánh chiếm 3 đồn địch là bót Bờ Xoài (Bình Khánh), bót Búng Bà Châu và bót Hữu Tài (An Định - Mỏ Cày). Trong lần chuẩn bị lấy bót Bờ Xoài, trước giờ G khoảng 5 ngày, ngày nào chị cũng vào bót gặp cơ sở nội tuyến để động viên anh em giữ vững quyết tâm và nắm sát diễn biến của địch. Những sơ đồ chính xác do cơ sở nội tuyến vẽ cho chị mang về cùng quy luật địch thường cho 1 tiểu đội sáng sớm ra khỏi đồn tuần tra là những thông tin quan trọng để đơn vị đặc công A xây dựng phương án tối ưu tiêu diệt nhanh gọn đồn Bờ Xoài cấp trung đội địch.

Tiếng nói của gia đình sĩ quan, binh sĩ ngụy ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng tình cảm con em họ. Vì vậy, ngành binh vận coi đây là một đối tượng đặc biệt phải tập trung tuyên truyền, vận động. Nhiều gia đình sĩ quan, binh sĩ ngụy có truyền thống cách mạng, có mối căm thù giặc, có lòng yêu nước khi tiếp nhận được luồng ánh sáng chính nghĩa đã không ngại khó khăn, gian khổ vận động con em mình ngả theo cách mạng. Từ năm 1969 đến 1972, có trên 22.000 gia đình binh sĩ đi vận động con em mình giác ngộ cách mạng. Mưa dầm thấm sâu đã làm cho những đơn vị quân đội Sài Gòn bề ngoài hùng hổ nhưng bên trong dần dần rệu rã. Những cuộc đào ngũ ngày càng nhiều, có cuộc đào ngũ tập thể cả tiểu đội. Những cuộc phản chiến liên tiếp diễn ra với nhiều mức độ khác nhau. Đơn cử như ngày 9 tháng 2 năm 1971, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 10, Sư đoàn 7 ngụy đang đóng quân ở xã Giao Thạnh (huyện Thạnh Phú) thì trực thăng đến để chở đi hành quân ở Cồn Tra. Nhiều hạ sĩ quan, binh sĩ không chịu lên máy bay mà bỏ chạy tán loạn vào rừng và vào nhà dân gần đó. Địch đem trực thăng chiến đấu đến bắn đe dọa nhưng chỉ bắt được 14 binh sĩ. Cuộc hành quân bị bẻ gãy.

Khẩu hiệu: Cha lấy đồn con, vợ lấy đồn chồng hồi đó đã đi vào thực tế rất sinh động. Anh Chín Thắng kể lại: Năm 1967, tôi được chú Năm Nhàn (một cán bộ Huyện ủy Thạnh Phú) tổ chức đưa vào lính ở đồn Xóm Chói. Cha tôi biết được nhiệm vụ của tôi nên không ngăn cản mà động viên tôi cố gắng hoàn thành. Đêm 30 tháng 8 năm 1968, theo qui ước khi tôi ca bài Võ Đông Sơn - Bạch Thu Hà, thì cha tôi giả đò đi cắm câu gần đồn bắt được ám hiệu của tôi nên dẫn bộ đội tràn vào đồn bổ súng giết 6 tên địch và bắt sống một số tên còn lại.

Trên trận tuyến mới

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi, miền Nam hoàn toàn giải phóng. Ngành binh vận hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và giải thể. Cán bộ của ngành binh vận được chuyển sang công tác khác. Bước đầu với nhiệm vụ mới thực hiện chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc tuy có bỡ ngỡ nhưng nhờ kinh nghiệm trước đây về công tác vận động quần chúng, ý thức giữ gìn bí mật tình huống, phong cách năng động, linh hoạt sáng tạo, chủ động ứng phó với những phức tạp đã giúp các anh, chị hoàn thành tốt nhiệm vụ mới. Nhiều đồng chí trở thành cán bộ chủ chốt của tỉnh, của huyện, của ngành. Năm 2010, ngành binh vận Bến Tre được Chủ tịch nước tặng danh hiệu Anh hùng và rất xứng đáng được nhận phần thưởng cao quí đó. Tuy nhiên, theo tâm sự của một số cán bộ binh vận thì còn nhiều tập thể và cá nhân cán bộ binh vận, cán bộ mật giao, cơ sở nội tuyến trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ có thành tích rất xuất sắc nhưng chưa được khen thưởng đúng mức. Một số đồng chí tuổi cao sức yếu, bệnh tật hoành hành. Các cuộc họp mặt cán bộ binh vận tổ chức khá khiêm tốn và ngày càng thưa dần những khuôn mặt thân yêu. Công tác tuyên truyền thành tích của ngành binh vận tỉnh nhà trên các phương tiện truyền thông cũng còn hạn chế, một phần do đặc thù của ngành trước đây phải giữ bí mật. Do đó làm sao để công tác binh vận một trong ba mũi giáp công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước không bị lu mờ theo năm tháng đi qua là điều cần suy nghĩ.

Đã gần nửa thế kỷ trôi qua, trong phạm vi một bài báo, chắc chắn nhiều con người, sự kiện tiêu biểu điển hình của ngành binh vận tỉnh nhà chưa nêu được ra đây. Tác giả mong muốn được sự đóng góp bổ sung, chấn chỉnh từ các cô, chú, anh, chị là chứng nhân của công tác binh vận trước đây. Để mỗi lần kỷ niệm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, chúng ta có dịp nhắc lại những con người, những sự kiện đáng ghi vào lịch sử của ngành binh vận một cách đầy đủ và chính xác hơn.

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN