Ngày không nắng

16/08/2018 - 10:53

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa.

Xẻo Bần, một dãy đất nằm giữa sông Hét và rạch Bần. Nhìn trên bản đồ, nó rất gần với thị trấn Tam Lương, nhưng do con sông Hét rộng hơn trăm thước chia cắt, nên khoảng cách ấy trở thành xa lắc, xa lơ. Dân Rạch Bần muốn đi Tam Lương, đường sông phải hơn mười cây số, còn đường bộ thì dài vô kể. Họ phải qua con đường gồ ghề, quanh co men theo rạch Bần hơn ba cây số, len lỏi hơn năm cây số trong những bờ dừa của Lương Hạ và Lương Trung mới gặp lại sông Hét tại bến Đình, qua phà sang Lương Thượng, đi tiếp gần hai mươi cây số nữa mới đến chợ.

Đất Xẻo Bần phần lớn của Chủ Hỉ. Ông ta là người giàu có, uy quyền nhất Tam Lương này, đất đai trải dài mấy chục mẫu bên bờ sông. Hét, tên con sông, cũng là cách gọi trại tên ông ta mà ra. Sau một chín sáu hai, bót Nhà Thờ Lương Hạ bị triệt, Chủ Hỉ đành bỏ đất chạy ra chợ Tam Lương. Chiến tranh kết thúc, chỉ có con trai út là Mười An trở về. Anh ta canh tác mấy công đất quanh ngôi nhà cũ, những phần đất khác đều được chia hết cho tá điền. Đất Chủ Hỉ coi như không còn, Xẻo Bần căn bản thay đổi. Mười An là một trong những đứa con giống Chủ Hỉ nhiều nhất, giống cả hình dáng lẫn tính tình. Anh ta có gương mặt bèn bẹt. Nổi bật trên gương mặt ấy là cái trán cao và sói tận đỉnh đầu. Mắt lại rất hẹp, ti hí như mắt rắn ráo, nằm sát sạt dưới cặp lông mày rậm. Mũi ngắn, phần dưới sống vun lên bất thường và cong vào bên trong như cái móc câu. Miệng nhỏ, đôi môi mỏng lúc nào cũng mím chặt, thụt vào bên trong hai má phúng phính thịt. Nhìn gương mặt ấy, người ta có cảm giác như nhìn vào căn nhà đồ sộ, nhưng mọi cửa nẻo đều đóng kín.

Những năm cuối của chiến tranh, Mười An buôn bán dọc con sông Hét, luồn một cách an toàn giữa hai bờ, một bên là Lương Thượng thuộc phe Cộng Hòa, còn bên kia là Lương Hạ. Sau chiến tranh, Mười An sốt sắng đi gặp những người có trách nhiệm, nhờ họ xác nhận việc anh ta là đầu mối vận chuyển mắm muối, gạo thóc, thuốc men cho Lương Hạ. Đò bị trưng dụng trong những ngày cuối của cuộc chiến, cũng được anh ta thổi phồng thành sự kiện đáng kể của cuộc đời. Mười An còn xông xáo trong việc chở cán bộ lên tỉnh, xuống huyện và bấm bụng hiến ngôi nhà Chủ Hỉ cho Lương Hạ làm trường học. Phần mình, anh ta cất căn nhà lè tè như bao căn nhà khác, để ở. Dân Xẻo Bần và cả Lương Hạ nữa, bắt đầu nhìn Mười An bằng cặp mắt thân thiện hơn. Cái trán vòi vọi, cặp mắt ti hí và hàm răng sin sít trở thành thân quen, gần gũi với mọi người.

Rồi Mười An được tờ giấy chứng nhận gia đình có công. Anh ta rất quí, đã lồng nó vào cái khung bằng gỗ trắc, chạm trổ nhiều hoa văn rất tinh xảo, treo ở vị trí trang trọn nhất trong nhà. Cái khung ấy trước đây, dùng để lồng tấm hình Chủ Hỉ chụp chung với ông Chủ tỉnh người Pháp. Đối với Mười An, sự công nhận này có ý nghĩa lớn lắm, nó không những chứng tỏ anh ta không thuộc phe bại trận, mà còn là một thứ “thông hành”, để anh ta dễ dàng bước qua nẻo rẽ cuộc đời.

Mười An là người từng trải, mặc dù rất quí tờ giấy công nhận, nhưng anh ta cũng tỉnh táo hiểu rằng, tờ giấy nhỏ nhoi ấy, không đủ để gói cái đuôi địa chủ dài ngoằn của mình. Con trai út của ông Chủ làng ngày xưa chưa tinh tường lắm chế độ mới, nhưng trong những lần tiếp xúc với người có trách nhiệm, anh ta thấy trong số họ, cũng có người thích ăn nhậu, thích tâng bốc, thậm chí có người còn rất thích đàn bà. Trưởng ấp Xẻo Bần Trần Hoang, là một trong số đó.

Trần Hoang là người bên Lương Thượng, anh ta có một tuổi thơ không êm đềm lắm. Cha là tá điền có bà con xa với Chủ Hỉ, được bà Chủ gả con sen trong nhà cho. Cưới chưa được tám tháng, cô sen sinh ra được thằng nhỏ có gương mặt bì bì chẳng mang vết tích nào của anh tá điền cả. Anh ta đặt tên cho nó là Hoang, thằng con hoang. Hoang lớn lên trong sự giận hờn đến độc ác của tay nông dân làm thuê này. Mười sáu tuổi, cùng với cái lưng đầy vết roi và lòng đầy hận thù, đứa con hoang ấy bỏ nhà vượt sông Hét qua Lương Hạ.

Trần Hoang sau khi vượt sông, được phân công tiếp nhận mắm muối, gạo thóc, thuốc men do Mười An mua giúp cho Lương Hạ. Mặc dù tuổi còn nhỏ, nhưng Trần Hoang cũng rất rành rẽ chuyện chấm mút bớt xén trong mỗi chuyến nhận hàng. Nhờ quen biết trước và rất hiểu nhau, nên sau chiến tranh, hai con người này càng thêm gắn bó. Hôm nhận giấy chứng nhận gia đình có công, Mười An kêu vợ từ Lương Thượng qua làm bữa tiệc nhỏ với năm ba chòm xóm, trong đó có Trần Hoang. Nhân buổi rượu, Mười An cà kê với Hoang là hai người có chung ông tổ. Tổ của họ là Trần Khanh, hai ba trăm năm trước từ Ngũ Quảng vào phương Nam lập nghiệp, rồi định cư luôn ở vùng đất Tam Lương này. Mười An dẫn giải thêm, từ ông tổ Trần Khanh, đến nay dòng họ Trần ở Tam Lương đã trải qua tám đời, con cháu nhiều vô kể. Trần Hoang với anh ta thuộc đời thứ bảy có chung một ông sơ. Tính tới tính lui, Hoang phải gọi Mười An bằng anh. Mười An còn thân mật vỗ vai Trần Hoang nói:

“Dòng họ Trần giống nhau cái trán, gặp giữa rừng còn nhận ra, huống hồ sát vách chú nhỉ!”

Những người nhậu chung cũng thừa nhận Mười An và Trần Hoang có nhiều nét hao hao. Chuyện thực hư thế nào không biết, nhưng nó khiến Trần Hoang vô cùng phấn khởi. Anh ta hết sức tự hào vì mình cũng có cái trán cao của dòng họ lâu đời danh giá này. Từ đó, Mười An và Trần Hoang thường xuyên qua lại, đối đãi với nhau bằng tình cảm ruột rà thân thích.

Cuối năm một chín bảy lăm, Trưởng ấp đã nghệch ngoạc được chữ ký dưới những giấy tờ, đơn thư của người dân Xẻo Bần. Mười An không những giúp Trần Hoang biết đọc, biết viết, mà còn bày cách cho cái đầu rỗng chữ, nhưng nhiều tham vọng, giải quyết trôi chảy vụ “Hợp tác xã thương nghiệp” ở cái ấp heo hút này. Mặc dù ngôi nhà lá một gian, trong đó lủ khủ dưa cà mắm muối chỉ đủ sống tạm vài tháng, nhưng nó cũng giúp Trần Hoang trụ vững vị trí của mình. Cũng cuối năm đó, Mười An xin được thủ tục cải tạo chiếc đò chở hàng thành đò chở khách.Trần Hoang ngày càng nhận được sự hài lòng của xã. Anh ta không còn là loại “cà nhỏng chống xâm lăng” nữa, nhiệt tình đến nỗi thanh niên ấp Xẻo Bần thấy anh ta như chuột thấy mèo.

Cuối năm một chín tám lăm, Xẻo Bần có ba thanh niên từ xứ Chùa Tháp trở về cùng ba chiếc nạng. Họ kể, có một loại mìn rây khi nổ chỉ chặt đứt gót chân, nhưng chất độc của nó luồn rất nhanh vào xương, phải tháo khớp gối mới giữ được mạng sống. Cũng cuối năm đó, Trần Hoang được giấy khen. Anh ta đọc thành tích do cái đầu Trung học đệ nhứt cấp Mười An viết ra một cách khá trôi chảy và trơn tru, huyện, xã đều hài lòng.

Mười An thụt ló bên ngoài, cũng lộ phần thích thú, thỉnh thoảng lại dứ dứ nắm tay vào không khí. Kết thúc hội nghị, phóng viên báo tỉnh còn hứa vô tận Xẻo Bần để làm phóng sự về kinh nghiệm gom quân. Cái tin ấy, làm Mười An phấn khởi vô cùng, trong cái đầu sói sọi, không biết nghĩ lung điều gì, mà những sợi gân hai bên thái dương giật liên hồi.

***

Cô Mây đến Xẻo Bần sau chiến tranh chừng vài tháng. Xẻo Bần khi ấy chỉ là bãi bồi giữa sông Hét và rạch Bần chỉ có lưa thưa người. Mây cất cái chòi nhỏ trên mô đất bé tẹo nổi lên giữa bãi bồi để ở. Tính ra, đất này thuộc sở hữu của Mười An, chẳng thấy anh ta nói gì. Mây tiếp tục phát hoang, lên bờ trồng trọt. Từ mô đất bé tẹo, cô lần hồi mở rộng hơn trăm thước ra bờ sông, mặc nhiên thành chủ mảnh đất. Mây không phải người Tam Lương, mẹ cô và cô từ vùng ngoài lánh nạn chiến tranh chạy vào, tết Mậu Thân vướng lại Lương Thượng và định cư luôn ở đây. Trong một lần đi vớt củi trên sông, mẹ Mây thấy buồng chuối hườm hườm gie ra bên Lương Hạ. Bà bươn bả bơi ghe qua, con dao vừa chạm tới buồng chuối, một tiếng nổ kinh hoàng đẩy ngoài phụ nữ xấu số xuống sông. Trên ghe người ta còn tìm thấy một mảnh vỏ đạn có chữ nước ngoài. Từ đó, Mây sống một mình, đến năm mười bảy tuổi, được Trưởng đồn Tam Lương cưới về làm vợ bé. Mùa xuân một chín bảy lăm, Lương Hạ chưa kịp vượt sông Hét, tay Trưởng đồn đã cao chạy xa bay. Mây đến Xẻo Bần không chỉ một mình, trong bụng cô còn có một công dân tương lai của mảnh đất heo hút này. Thằng Bé ra đời trên cái chõng tre thấp lè tè giữa mùa nước rông về. Bà mụ vườn vừa lội nước, vừa đỡ đẻ, không biết lóng ngóng thế nào mà thằng bé vừa chào đời đã rơi xuống nước, âm thanh trong buổi chiều hoang vắng ấy trở thành tên của nó.

Thời gian thấm thoắt trôi qua, mới đó mà thằng Tõm đã mười một tuổi. Hằng ngày, cô Mây phải cõng nó ì ạch lội qua cái bờ mẫu nửa nước, nửa bùn, ngót nghét hai trăm thước mới đến đường vào xóm trong. Biết Trần Hoang để mắt đến cô gái một con này, Mười An gợi ý Trưởng ấp vận động tình làng nghĩa xóm, đắp con đường vào chòi cô Mây. Được lời như cởi tấm lòng, người đàn ông đang thiếu đàn bà hồ hởi làm ngay. Con đường đang giữa chừng, thì phóng viên báo tỉnh về làm phóng sự kinh nghiệm gom quân. Trước hình ảnh Trưởng ấp cùng nhân dân đắp đường, tay phóng viên trẻ nhưng nhiều kinh nghiệm không bỏ lỡ cơ hội. Mấy ngày sau, báo tỉnh có bài phóng sự dài về kinh nghiệm vận động nhân dân làm giao thông nông thôn ở ấp Xẻo Bần. Tiêu đề bài báo cùng tấm hình chụp Trần Hoang đang trả lời phỏng vấn, được in trên trang nhất. Trong ảnh, phía sau Trần Hoang, còn một nhóm nông dân, mặt ngay như chúa tàu nghe kèn, mắt nhìn thao láo vào ống kính. Tay phóng viên dù có kinh nghiệm cách mấy, cũng không tài nào biến những ánh nhìn đầy ngơ ngác của những người nông dân, trở thành lấp lánh được.

Nhờ sự kiện này mà Đại hội năm sau, Trần Hoang được đưa lên xã. Sau khi Trần Hoang lên xã, Mười An lại hiến kế cho anh ta, tiếp tục chỉ đạo Xẻo Bần kéo dài con đường vô nhà cô Mây ra sát mép nước con sông Hét. Không lâu sau, con đường ấy, trở thành lối chính cho những người muốn đi đò lên chợ huyện. Một cái bến mới ra đời, người ta gọi là bến Cô Mây.

Đò Mười An do vợ quản lý, con trai lớn làm tài công, cũng chuyển từ bến Đình về bến Cô Mây, vừa gần nhà, vừa rước thêm nhiều khách. Nhờ bến mới, cô Mây mở cái tiệm nho nhỏ, vừa bán tạp hóa, vừa phục vụ rượu bia, thu nhập có phần khá hơn, cô không còn xuống rạch lên bờ, quơ quào tép cá nữa. Cái bến như gương mặt mới của Xẻo Bần. Sau mười năm hòa bình, mảnh đất này không còn heo hút.

***

Xẻo Bần kỷ niệm ba mươi lăm năm kể từ ngày không còn tiếng đạn bom, với gương mặt hoàn toàn khác hẳn. Con đường vào nhà Cô Mây, đưa Trưởng ấp Trần Hoang lên xã ngày nào, đã trở thành con đường nhựa rộng hơn bốn thước, nối liền Xẻo Bần với trung tâm Lương Hạ, xuyên Lương Trung, kéo dài qua các huyện khác, thông suốt đến tỉnh lị. Đầu bên này, bến đò Cô Mây trở thành bến phà. Bên kia sông, một con đường bề thế, chạy thẳng vào thị trấn Tam Lương, có chiều dài chừng non ba cây số. Chiếc trẹt của con Mười An, ba lần đại tu nâng thêm sức chứa, mà vẫn nghẹt khách mỗi ngày. Trần Hoang đã lên tỉnh. Với tấm bằng Cử nhân luật, anh ta yên vị trên một cái ghế được dự phần hoạch định tương lai của những con đường. Còn Mười An lột xác thành doanh nhân thành đạt lúc nào không biết. Anh ta kinh doanh địa ốc, mua đất nơi nào, y rằng, thời gian sau, nơi đó sẽ có tuyến đường ngang qua, giá trị đất nâng lên gấp nhiều lần. Mười An còn là một nhà kinh doanh thầu có hạng, nói là kinh doanh, bởi vì, phần lớn những thầu anh ta trúng đều được sang tay để kiếm lời.

Cô Mây là người không được may mắn trong sự đổi thay của Xẻo Bần. Người tình sau khi lên tỉnh đã quên cô gái một con bán rượu bên sông. Thằng Tõm bị vợ bỏ, đùng đùng đi tìm đứa phản bội nó, biền biệt gần mười năm không về; nợ nần chất ngất sau những cuộc nhậu thâu đêm, suốt sáng, vui đến ngất trời với Trần Hoang và bạn bè tay cánh của anh ta. Tất cả những nỗi buồn, nỗi đau, nỗi lo sợ ấy đã đè bẹp cô gái một con trông mòn con mắt ngày nào. Cô Mây đã bán nhà cửa, đất đai, vô tận Ngọn Cùng, một nhánh của rạch Bần, mua miếng đất nhỏ để ở. Cô gái một thời được Trần Hoang săn đón, một thời được cán bộ xã, huyện niềm nở tới lui, đã chết lần, chết mòn, bởi chứng bệnh ung thư gan, trong căn nhà hun hút bên trong.

***

Chiều nay, Mười An cảm thấy vô cùng sảng khoái, anh ta chợt nhớ đến chiếc ghế dựa, một báu vật của dòng họ Trần. Chiếc ghế này từ đời ông cố của Chủ Hỉ, tên là Trần Bình, đỗ cử nhân tại trường thi Gia Định, đời vua Tự Đức. Theo gia quy họ Trần, chiếc ghế chỉ để lại cho con trai út. Đã trải qua bốn đời lưu truyền, đời nào cũng vậy, những người thừa kế, đều được hưởng sự giàu sang, phú quí.

Mười An đem chiếc ghế ra lau chùi, vừa làm vừa nghĩ đến Trần Hoang. Trong gia đình Mười An, ai cũng biết chuyện Chủ Hỉ tằng tịu với con sen trong nhà dẫn đến có thai, phải gả thốc gả tháo cho anh tá điền. Và, Trần Hoang ra đời, trong cuộc gán ghép đầy lọc lừa ấy. Tính ra, Trần Hoang mới là người thừa hưởng cái ghế này. Soi lại, Trần Hoang ngày nay, cũng là người quyền uy, giàu có nhứt họ. Mười An tỉ mẩn, với thái độ hết sức trân trọng và thành kính. Bây giờ Mười An đã cột chặt “ghế thằng út” vào mình rồi.

Hôm thông báo cho Mười An biết tin về thị trấn Tam Lương nâng cấp thành thị xã, Trần Hoang không quên nhắc khéo vụ cái bằng. Nhắc đến chuyện đó, Mười An không khỏi mỉm cười trước cái trò mèo của Trần Hoang. Chuyện xảy ra vào cuối những năm một chín tám mươi. Biết Mười An có cái bằng Trung học đệ nhứt cấp, Trần Hoang xin cho làm bản công chứng. Vào những năm đó, công chứng giấy tờ, bản sao còn rất hời hợt, đánh máy hoặc viết tay. Khi làm bản sao, Trần Hoang cố ý tạo nên mấy lỗi nhỏ như, An không viết hoa chữ a, khoảng cách giữa hai chữ Trần An rộng hơn bình thường; mục ngày tháng sinh để trống; năm sinh 1950 số o viết nhỏ hơn số 5 và thụt xuống dưới. Đợi gần hết giờ làm việc, Trần Hoang mới đưa giấy tờ công chứng cho người có trách nhiệm ở Ủy ban huyện Tam Lương. Anh này biết Trần Hoang làm việc ở xã Lương Hạ, lại có giấy tờ đầy đủ, nên chỉ nhìn qua loa rồi ký tên, đóng dấu. Trước khi trả lại giấy tờ, còn nhắc Trần Hoang nhớ điền ngày tháng sinh vào.

Sau khi có bản công chứng, Trần Hoang khéo léo điều thêm hai chữ H, o vào trước chữ a, chữ g vào sau chữ n. Như vậy Trần an đã thành Trần Hoang. Còn năm sinh, anh ta thêm nét ngoặc trên chữ số o để biến nó thành số 6. Như vậy, năm sinh của Mười An là 1950 đã thành năm sinh của Trần Hoang là 1956.

Không ngờ trò mèo này, cũng giúp Trần Hoang sau đó có được bằng Tốt nghiệp phổ thông trung học hệ bổ túc văn hóa một cách đường hoàng và bằng Cử nhân luật hệ tại chức một cách minh bạch.

***

Tõm sau một giấc ngủ vùi thức dậy với cái bụng trống rỗng. Lại một chiều nữa, con người ngủ ngày này phải đối mặt với sự cô đơn trống vắng. Trong căn nhà heo hút của mình, Tõm chán ngán nhìn những tia nắng đang tắt dần trên sân. Tiếng kêu lẻ loi, thê thiết của con chim lạc bầy càng làm Tõm buồn hơn. Anh ta dõi mắt nhìn theo con bướm đang vờn bay trong sân, tự hỏi, không biết con bướm tìm chi mà cứ chập choạng hết bay vào lại bay ra, lúc là đà nơi chân thềm, khi chấp chới trên ngọn lá. Ngoài rạch con nước đang lớn đầy, xa xa bìm bịp gọi bầy, âm thanh vang vọng trong chiều thật là thê lương. Trăng mười sáu dần lên, màn đêm từ từ buông xuống. Khung cảnh này làm Tõm nhớ đến một buổi tối định mệnh.

Tối ấy, trong cơn chếnh choáng, Tõm thất thểu lạc vào bến nước nhà Đẹt. Dưới ánh trăng vành vạnh trong trẻo, cơ thể cô gái vừa qua tuổi đôi mươi, lồ lộ trong làn áo trắng mỏng. Bộ ngực tròn đầy, cái núm mới nhú như nụ hoa vừa hé, phơi bày mồn một dưới ánh trăng. Hình ảnh mời gọi ấy cứ ám ảnh mãi đầu óc Tõm. Từ đó, không ngày nào, anh thanh niên hai mươi bảy tuổi đang thèm vợ đến cháy rún này, không đến nhà cô gái trẻ. Người ta nói, “Nhất đẹp trai, nhì cưa dai”, Tõm có cả hai thứ đó, không đầy một năm sau, quả lê tròn đầy và nụ hoa vừa hé ấy đã trở thành sở hữu của anh ta.

Sống với nhau chưa hết mùa hoa cúc nở, Đẹt hiểu rằng, Tõm không có thứ mà cô đam mê, đó là tiền. Một gã thầu đã mê muội Đẹt lúc nào không biết, khi con đường Lương Hạ hoàn thành, cũng là lúc Đẹt bỏ Tõm đi theo tiếng gọi của sự giàu sang. Anh dân quê sau vài ngày giận dữ đã không thể chịu đựng nổi sự thiếu vắng người đàn bà vốn là của mình. Đằng đẵng tám năm trời tìm kiếm, cuối cùng Tõm cũng gặp Đẹt trong một quán bia ôm. Cô vợ năm xưa nhìn chồng bằng ánh mắt của người không quen biết, lời nói càng phũ phàng cay độc nhiều hơn:

“Anh uống bia gì, em ngồi với anh được không?”

“Đẹt… em…”

“Tôi không phải là Đẹt, tôi là Kiều Tiên, với anh tôi không còn quan hệ gì cả. Nếu anh không chịu ngồi với tôi, tôi kêu người khác cho anh.”

Tõm đau đớn đến tột cùng, buông từng lời cay đắng:

“Được rồi, cô đem bia và ngồi với tôi.”

Tõm ừng ực từng ly bia như cố nốc vào lòng sự uất ức đang dâng trào. Đẹt từ tốn rót mỗi khi Tõm nốc cạn và thản nhiên ngồi giũa móng tay như chẳng có chuyện gì xảy ra. Bất ngờ Tõm hỏi:

“Cô đi khách hôn?”

Đẹt không cần úp mở, rành rọt trả lời ngay:

“Nếu anh muốn. Tôi không đi tàu suốt, tàu nhanh bốn trăm ngàn, tiền phòng anh lo.”

Tõm kinh ngạc nhìn con người đã một thời ôm ấp, phân vân hỏi:

“Chẳng lẽ không còn chút tình nào sao?”

Đẹt cười mỉa mai:

“Tình có xài được không? Anh uống bia thêm để tôi lấy?”

“Thôi. Cô tính đi, luôn tiền boa nữa!”

***

Con nước rông đã bò qua chân mộ bà Mây, bò qua chân thềm nhà, bò đến chân Tõm. Cái lạnh bất ngờ đã kéo Tõm ra khỏi ký ức đau buồn. Trăng đã vượt qua những rặng dừa, Tõm vội khoác áo, đạp lên con nước, băng qua ánh trăng đi về phía bến phà. Anh ta và đám bạn cùng hội cùng thuyền đang làm bảo vệ ban đêm cho mấy cái kho chứa vật tư của Mười An. Tay tư nhân này đã trúng thầu cây cầu bắt qua sông Hét.

Đến nơi, Tõm thấy nhóm “Đờn tôi cô đơi” tề tựu đông đủ trên chiếc chiếu rách, bên vệ đường đối diện với bến phà. Đó là những mảnh đời không có nửa mảnh kia ghép lại. Đó là những đứa con cháu của tá điền ngày xưa, trong cuộc sàn lọc nghiệt ngã của cuộc sống, đã rớt lại phía sau trong cuộc mưu sinh nghiệt ngã. Tõm nhận ly rượu từ tay một đứa, chẳng nói chẳng rằng, ngửa cổ nốc cạn. Ngày của những người làm đêm, bao giờ cũng bắt đầu từ những ly rượu như vậy.

Lương Phú, đêm 11-11-2011

Truyện ngắn của Tô Nguyên Ngã

 

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN