Nghệ thuật chiến tranh nhân dân trong phong trào Đồng Khởi tại Bến Tre năm 1960

08/12/2009 - 14:15

Đã nửa thế kỷ trôi qua từ sự kiện phong trào Đồng Khởi ở Nam bộ năm 1960. Một thế hệ đã lớn lên, trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Và một thế hệ nữa đã được sinh ra, lớn lên, trưởng thành sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, thực hiện trọn vẹn khát vọng cháy bỏng của Đảng, Bác Hồ và của toàn dân tộc.

Vì độc lập, vì tự do,/  Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.
Tiến lên chiến sĩ đồng bào,/  Bắc, Nam sum họp xuân nào vui hơn!
Lửa thử vàng, gian nan thử sức và thời gian hơn 20 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, giúp chúng ta có thêm cái nhìn mới, phát hiện mới về phong trào đấu tranh và nổi dậy đồng loạt, đồng chí, đồng tâm của nhân dân miền Nam năm 1960 sau khi có Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II). Điều đầu tiên cần khẳng định: Miền Nam là thành đồng Tổ quốc bởi có nhân dân anh hùng của một dân tộc anh hùng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quần chúng yêu nước, cách mạng có thể làm nên những kỳ tích lớn lao, những chiến công chói lọi trong lịch sử oai hùng của dân tộc. Phong trào Đồng Khởi ở Nam bộ năm 1960 là một trang vàng như vậy!
Năm mươi năm qua, đã có nhiều hội thảo bàn bạc, thậm chí tranh luận sôi nổi về những giá trị lịch sử, quân sự, phương pháp dân vận, vai trò của tổ chức Đảng và cán bộ trong phong trào Đồng Khởi năm 1960, vị trí của nó trong toàn bộ 20 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược (1955-1975). Thành tựu nghiên cứu và những ý kiến thống nhất thì đã nhiều, song chắc chắn còn nhiều điều cần tiếp tục làm sáng tỏ từ cái nhìn của con người Việt Nam, của các nhà khoa học - nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thế kỷ 21 này. Để hiểu rõ hơn những giá trị, phương pháp quân sự đã trải nghiệm trong phong trào đồng khởi Bến Tre, chúng tôi xin nêu một khía cạnh, đó là chiến tranh nhân dân trong phong trào Đồng Khởi tại Bến Tre năm 1960.
l Lựa chọn, nắm vững thời cơ trong chiến tranh nhân dân
Đối với người làm cách mạng, xây dựng lực lượng, nắm bắt thời cơ, tạo thế bất ngờ, mưu trí trong chiến lược, sách lược là những vấn đề cốt yếu để đạt được thắng lợi. Ngay từ năm 1941, khi còn ở căn cứ địa Việt Bắc, Hồ Chủ tịch đã viết quyển Con đường giải phóng để bồi dưỡng lớp cán bộ cốt cán, chuẩn bị cho quá trình phát triển mạnh mẽ của phong trào đấu tranh của quần chúng và lực lượng vũ trang, đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành chính quyền về tay nhân dân. Trong tài liệu quí giá này, Người chỉ rõ phải có 3 điều kiện để tạo nên thời cơ khởi nghĩa, nổi dậy. Đó là, chính quyền thực dân đế quốc lung lay đến cao độ dùng mọi thủ đọan để áp bức nhân dân, khủng bố phong trào cách mạng; quần chúng nhân dân cực khổ, lầm than, căm thù thực dân đế quốc cực điểm, mong muốn đồng tâm hiệp lực nổi dậy, đấu tranh chống thực dân đế quốc giành lại sự sống; chính đảng cách mạng đủ sức tổ chức lãnh đạo quần chúng nổi dậy với đường lối đúng đắn, chọn thời điểm, thời cơ khởi nghĩa, có kế hoạch phù hợp thực tiễn.
Phong trào Đồng Khởi năm 1960 tại Bến Tre diễn ra như một tất yếu lịch sử bởi hội tụ đầy đủ 3 yếu tố tạo nên thời cơ khởi nghĩa. Giai đoạn từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954) đến năm 1959 là thời kỳ vô cùng gian khó của cách mạng miền Nam nói chung và ở Bến Tre nói riêng. Về phía ta, chính quyền cách mạng không còn, bộ đội địa phương chuyển vùng, tập kết ra Bắc, tổ chức Đảng và đảng viên đi vào họat động bí mật, bất hợp pháp trong sự khủng bố “tìm, diệt” gắt gao và tàn độc của kẻ thù. Bên cạnh đa số cán bộ, đảng viên trung kiên bám đất, bám dân, kết nối đường dây của tổ chức, nuôi dưỡng phong trào cách mạng…, vẫn xảy ra không ít trường hợp cán bộ, đảng viên dao động về lập trường, sợ hy sinh gian khổ mà từ chối nhiệm vụ, thậm chí phản lại cách mạng, đầu hàng, chiêu hồi đưa địch về đánh phá tổ chức, bắt giết cán bộ cốt cán, chỉ điểm cho địch bố ráp, khui hầm, đào bốc đi một số vũ khí ít ỏi ta cất giấu sau ngày đình chiến…Về phía địch, hệ thống chính quyền tay sai được thiết lập từ tỉnh xuống đến hội đồng xã, ấp. Mỹ- Diệm thực hiện áp đặt chế độ thực dân kiểu mới với những chính sách vừa tàn bạo vừa thâm độc. Chúng đưa thành phần tư sản, địa chủ ác ôn, bọn di cư phản động, tề điệp nắm giữ chính quyền các cấp, hoặc dùng kế làm giấy căn cước, tờ khai gia đình để phân lọai các gia đình, thực hiện chính sách cô lập, khủng bố gia đình kháng chiến, có người đi tập kết và có cảm tình với cách mạng. Ở ấp, xã, bọn tề ngụy lùng sục bắt giết cán bộ, đảng viên, tổ chức mô hình “liên gia bảo” để theo dõi việc làm ăn, đi lại của đồng bào hòng phát hiện cán bộ cách mạng. Ngô Đình Diệm còn đưa bọn tình báo, công an, mật vụ từ Sài Gòn về Bến Tre để thực hiện các chiến dịch “tố cộng, diệt cộng”. Lực lượng ngụy quyền tại Bến Tre đôn quân, bắt lính, thiết lập hệ thống hơn 300 đồn bót, xây dựng 4 khu trù mật tại 4 huyện: Bình Đại, Ba Tri, Sóc Sãi, Mỏ Cày để chia tách quần chúng và cán bộ cách mạng; trong đó địch chọn khu trù mật Thành Thới (Mỏ Cày) làm điểm xây dựng điển hình cho toàn miền Trung Nam bộ. Trên lĩnh vực kinh tế, chính quyền Mỹ- Diệm ra Chỉ dụ số 2, Chỉ dụ 57 nhằm giành lại đất từ tay nông dân, tăng tô, xáo canh, tách nông dân ra khỏi ảnh hưởng cách mạng để lại phụ thuộc vào tầng lớp địa chủ mới. Đời sống nông dân sa sút. Trường học, đình chùa trở thành nơi giam giữ, tra tấn cán bộ cách mạng. Luật 10/59 của Mỹ- Diệm trắng trợn bắt, giết đồng bào yêu nước vô tội vạ, không cần xét xử. Tại Bến Tre, lực lượng đảng viên từ 2.000 người, bị bắt, giết, bị tù đày đến cuối năm 1959 chỉ còn 162 người, sinh hoạt tại 18 chi bộ trong 115 xã lúc bấy giờ. Số xã còn chi bộ chỉ còn khoảng 10%.
Trong những năm tháng gian khổ, đen tối ấy, tổ chức Đảng, cán bộ cách mạng vẫn tồn tại giữa lòng dân. Thực hiện chỉ đạo của Khu ủy Khu 8, Tỉnh ủy Bến Tre thực hiện chủ trương giữ gìn lực lượng, tiếp tục xây dựng lực lượng quần chúng cách mạng, lấy đấu tranh chính trị làm mũi giáp công chủ yếu. Khẩu hiệu đấu tranh chuyển từ đòi dân sinh, dân chủ, chống giật đất, tăng tô, chống đánh đập, tù đày vô cớ… chuyển dần sang nội dung chống Luật 10/59, đòi hiệp thương, tổng tuyển cử theo Hiệp định Giơ-ne-vơ.
Từ khi Ngô Đình Diệm lên cầm quyền thực thi chính sách gia đình trị độc đoán, ngay trong chính phủ bù nhìn cũng xáo trộn, mâu thuẫn, tranh giành địa vị, xung đột với các giáo phái. Không khí xã hội ngột ngạt, mất dân chủ và sự xuất hiện lối sống ngoại lai, thực dụng kiểu Mỹ đã làm dấy lên phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân từ nông thôn đến đô thị. Tình thế cách mạng lúc bấy giờ đòi hỏi phải có một hình thức đấu tranh mới. Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra đời phù hợp với thực tiễn cách mạng và ý chí khát khao của quần chúng muốn vùng lên lật đổ chính quyền Mỹ- Diệm. Đường lối phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam được xác định là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ chính quyền Mỹ- Diệm, giành chính quyền và thiết lập chính quyền cách mạng của nhân dân.
Trong kho tàng nghệ thuật quân sự theo Tư tưởng Hồ Chí Minh có một nội dung quan trọng là kết hợp chặt chẽ lực, thế, thời, mưu trong tổ chức chiến tranh nhân dân giành và giữ chính quyền. Bài học đó được thể hiện sinh động trong thời khắc lịch sử, Tỉnh ủy Bến Tre tiếp thu tinh thần Nghị quyết 15, kịp thời nắm thời cơ tổ chức thành công cuộc Đồng Khởi tại Bến Tre. Khi ấy thời cơ là lực lượng. Đầu tháng 12-1959, đồng chí Nguyễn Thị Định khi đó là Phó Bí thư Tỉnh ủy, thay mặt Thường vụ Tỉnh ủy đi dự Hội nghị triển khai Nghị quyết 15 tại Khu ủy Khu 8. Về đến Trà Vinh ngày 30-12-1959, đồng chí Nguyễn Thị Định tổ chức hội nghị triển khai tinh thần Nghị quyết cho một số đồng chí Tỉnh ủy viên từ ngày 1 đến ngày 3-1-1960. Hội nghị phân tích tình hình, nhiệm vụ cụ thể, phân công tổ chức và quyết định phát động một tuần lễ toàn dân đồng khởi, lấy huyện Mỏ Cày làm điểm chỉ đạo để nhân rộng đồng loạt các địa phương trong tỉnh, và lấy ngày 17-01-1960 làm thời điểm nổi dậy.
Kế hoạch đồng khởi tại Bến Tre được chuẩn bị gấp rút trong nửa tháng và được giữ bí mật đến giờ phút cuối. Do vậy, khi cuộc đồng khởi nổ ra lúc 7 giờ cho đến suốt đêm ngày 17-01-1960 tại 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (huyện Mỏ Cày), địch bị bao vây bất ngờ đã hoảng lọan, sợ hãi bỏ chạy hoặc đầu hàng. Chỉ một ngày, ta giải phóng được 3 xã, tạo thời cơ mở rộng vùng giải phóng trên 3 dải cù lao. Ngày nổi dậy, lực lượng cách mạng chỉ có 4 cây súng cũ, hỏng. Ta phải dùng mưu lược, tài trí để tạo lực và hợp lực để có sức mạnh đè bẹp chính quyền và lực lượng quân sự, bảo an của địch tại cơ sở.

(Còn tiếp)

Huỳnh Văn Be

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN