Nghị quyết về tầm nhìn phát triển tỉnh đến năm 2030 và năm 2045

17/09/2021 - 06:05

BDK - Ngày 24-8-2021, HĐND tỉnh khóa X, nhiệm kỳ 2021 - 2026 đã ban hành Nghị quyết (NQ) số 48 về tầm nhìn phát triển tỉnh đến năm 2030 và năm 2045, với mong muốn xây dựng tầm nhìn mới, cách tiếp cận mới trên cơ sở khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương để tạo sự đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Chủ tịch UBND tỉnh Trần Ngọc Tam (bên trái, hàng thứ nhất) thăm Nhà máy điện gió số 5 (Thạnh Phú). Ảnh: Cẩm Trúc

Chủ tịch UBND tỉnh Trần Ngọc Tam (bên trái, hàng thứ nhất) thăm Nhà máy điện gió số 5 (Thạnh Phú). Ảnh: Cẩm Trúc

Mục tiêu, định hướng chiến lược

Mục tiêu tầm nhìn đến năm 2030, tỉnh có nền kinh tế tăng trưởng ổn định theo định hướng phát triển về hướng Đông, đảm bảo an sinh xã hội cho người dân và trở thành tỉnh phát triển khá của cả nước. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân đầu người đứng trong nhóm 6 của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nhóm 30 của cả nước. Đến năm 2045, tỉnh có nền kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững, đảm bảo an sinh xã hội và môi trường sống lý tưởng cho người dân, trở thành tỉnh phát triển thịnh vượng của khu vực đồng bằng sông Cửu Long và cả nước, với các tiêu chí “đáng sống, có thu nhập cao, môi trường sống xanh - sạch - đẹp, thân thiện, hiện đại”.

Theo NQ, về GRDP, phấn đấu tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2021 - 2025 đạt 8,5 - 9,5%/năm; giai đoạn 2026 - 2030 đạt 12 - 13%; giai đoạn 2031 - 2045 đạt khoảng 12,5%/năm. Cơ cấu kinh tế, chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng nông nghiệp; tập trung phát triển các ngành công nghiệp chủ lực, dịch vụ chất lượng cao, du lịch kết hợp nông nghiệp công nghệ cao. GRDP bình quân đầu người, đến năm 2025 đạt 87 triệu đồng; năm 2030 đạt mức bình quân của cả nước; năm 2045 nằm trong nhóm khá cả nước.

Về lao động, đến năm 2030, giảm tỷ trọng lao động ngành nông nghiệp từ 49% xuống 39%, công nghiệp tăng từ 26% lên 38%. Đến năm 2045, ngành nông nghiệp giảm còn 29%, công nghiệp tăng lên 46%, các ngành khác 25%.

Cơ sở hạ tầng, đến năm 2025, phấn đấu hoàn thành 11 công trình, dự án trọng điểm theo NQ Đại hội XI Đảng bộ tỉnh. Đến năm 2030, hoàn thiện hệ thống giao thông quan trọng, nhất là tuyến đường ven biển, cảng biển, hệ thống thủy lợi Bắc và Nam Bến Tre, hệ thống cấp điện, nước và xử lý nước thải, rác thải. Đến năm 2045, hệ thống giao thông đồng bộ, kết nối trong tỉnh và khu vực; hệ thống đê, thủy lợi đồng bộ, khép kín, đảm bảo cung cấp nước ngọt và ứng phó với biến đổi khí hậu. Phát triển mạnh hạ tầng số, kinh tế số, xã hội số để đến năm 2025, kinh tế số chiếm 10% GRDP và năm 2030 chiếm 30% GRDP.

Đô thị hóa, đến năm 2030, tỷ lệ đô thị hóa đạt 45%, hệ thống đô thị của tỉnh gồm: 1 đô thị loại I (TP. Bến Tre), 3 đô thị loại III (các thị trấn mở rộng: Bình Đại, Mỏ Cày, thị xã Ba Tri), 2 đô thị loại IV (các thị trấn mở rộng: Thạnh Phú, Chợ Lách), hình thành các khu đô thị ven biển thuộc các huyện Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú. Đến năm 2045, tỷ lệ đô thị hóa đạt trên 60%, hệ thống đô thị của tỉnh gồm: 1 đô thị loại I (TP. Bến Tre), 3 đô thị loại II (các thị trấn mở rộng: Ba Tri, Bình Đại, Mỏ Cày), 2 đô thị loại III (các thị trấn mở rộng: Thạnh Phú, Chợ Lách), 3 đô thị loại IV (các thị trấn mở rộng: Châu Thành, Giồng Trôm, Phước Mỹ Trung, huyện Mỏ Cày Bắc).

4 trụ cột kinh tế quan trọng và các giải pháp

Thứ nhất, “tăng giá trị và tiếp cận thị trường trong nông nghiệp”: Định hướng ngành nông nghiệp tiếp tục là nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng hình thành vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, năng suất cao gắn với phát triển các hợp tác xã, quản lý chất lượng sản phẩm nông nghiệp. Phát triển mạnh các sản phẩm đã có thương hiệu như chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể, sản phẩm OCOP. Phát triển các sản phẩm trái cây, cây giống, hoa kiểng và thủy sản chất lượng cao, khả năng tiếp cận thị trường quốc tế.

Giải pháp: Tăng diện tích sản xuất các sản phẩm nông nghiệp chủ lực để xây dựng chuỗi giá trị. Lựa chọn vùng sản xuất để phát triển các mặt hàng nông sản phù hợp điều kiện sẵn có. Ban hành các chính sách phát triển vùng sản xuất hiệu quả. Thành lập Trung tâm Cây giống, hoa kiểng Chợ Lách mang tầm quốc gia. Khuyến khích và hướng dẫn nông dân thay đổi giống cây trồng, quy trình canh tác thích ứng với biến đổi khí hậu. Hỗ trợ phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã đi đầu trong liên kết phát triển chuỗi giá trị và áp dụng nông nghiệp thông minh. Xây dựng thương hiệu uy tín, chất lượng; thành lập Trung tâm Thương hiệu Bến Tre để quản lý, phát triển thương hiệu và các chỉ dẫn địa lý; xây dựng bộ tiêu chí nhận diện và phát triển thương hiệu để tổ chức quảng bá, thâm nhập các thị trường xuất khẩu; phát triển thị trường mục tiêu.

Thứ hai, “phát triển công nghiệp chế biến, năng lượng sạch”: Định hướng ngành công nghiệp chế biến sẽ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế của tỉnh, mục tiêu nhằm khai thác hiệu quả lợi thế vùng nguyên liệu nông sản, thủy hải sản dồi dào để phát triển công nghiệp chế biến tập trung. Xây dựng, hoàn thiện chuỗi giá trị từ cây, con giống, thức ăn, phân bón đến sản xuất chế biến và tiếp cận thị trường nội địa và quốc tế “tại chỗ”; phát triển ngành nghề mới như sản xuất thiết bị y tế tiêu hao, dược phẩm. Đào tạo và thu hút cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ cao, ưu tiên lĩnh vực năng lượng, công nghệ số, sinh học, chế biến, nông nghiệp công nghệ cao.

Giải pháp: Phát triển mạnh chuỗi giá trị chế biến sản phẩm thịt heo, bò, tôm; đầu tư cụm công nghiệp chế biến nông, thủy sản tập trung, công nghệ hiện đại tại các huyện có điều kiện vùng nguyên liệu. Phát triển nghiên cứu, sản xuất dược phẩm, thiết bị, vật tư y tế tiêu hao, các sản phẩm chăm sóc sức khỏe, trên cơ sở nghiên cứu xây dựng Trung tâm Nghiên cứu các loại bệnh nhiệt đới để trở thành trung tâm nghiên cứu và sản xuất các sản phẩm phục vụ y tế.

Thứ ba, “phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn”: Tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong tương lai như nét sinh thái độc đáo, giàu văn hóa lịch sử, lòng yêu nước, truyền thống Đồng Khởi, khát vọng vươn lên, có nền nông nghiệp đặc trưng vùng đồng bằng sông Cửu Long, phù hợp với du lịch trải nghiệm nông nghiệp; tiềm năng phát triển các loại hình du lịch thân thiện với thiên nhiên, văn hóa lịch sử, tâm linh, đáp ứng nhu cầu của du khách nội địa và quốc tế; phát triển dịch vụ du lịch, cơ sở lưu trú đa dạng.

Giải pháp: Phát triển các cụm du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm cùng với phát triển các khu lưu trú gần gũi với thiên nhiên để du khách có trải nghiệm. Phát triển cụm du lịch giải trí nghỉ dưỡng ngắn ngày ven biển; phát triển các tuyến du lịch văn hóa tâm linh, du lịch MICE. Tập trung triển khai Đề án phát triển du lịch tỉnh đến năm 2030, Đề án Làng Văn hóa du lịch Chợ Lách, Đề án Làng dừa huyện Mỏ Cày Nam. Triển khai các chiến dịch quảng bá du lịch tỉnh nhắm tới các đối tượng du lịch, khách hàng khác nhau; thành lập website VisitBT. Xây dựng các công trình kiến trúc đặc thù, tạo điểm nhấn thu hút giới truyền thông, du khách. Thành lập các trung tâm thông tin du lịch tại TP. Bến Tre và một số huyện có du lịch phát triển mạnh; nâng cao chất lượng phục vụ và đầu tư các phương tiện công cộng dành riêng cho du khách. Xây dựng khung tiêu chuẩn toàn diện và chương trình quản lý chất lượng du lịch nhằm nâng cao chất lượng phục vụ và uy tín cho ngành dịch vụ tỉnh.

Thứ tư, “nâng cao chất lượng cuộc sống, kiến tạo môi trường xanh bền vững”: Hướng tới xã hội văn minh, giàu có và bền vững trên cơ sở các tiêu chí như tỉnh có môi trường đáng sống hàng đầu khu vực miền Nam với không khí trong lành, có các khu vực nhà cao cấp thân thiện môi trường, khu cảnh quan xanh - sạch - đẹp; có các đô thị thông minh, văn minh, an toàn; phát triển mạnh năng lượng sạch, nhất là điện gió.

Giải pháp: Xây dựng khu dân cư cao cấp để thu hút người Việt Nam và nước ngoài đến sinh sống phù hợp cho từng nhóm khách hàng. Xây dựng TP. Bến Tre thông minh; số hóa cơ sở dữ liệu thông tin chính quyền; nâng cao nhận thức của người dân về kỹ thuật số; ưu tiên chuyển đổi số đối với một số ngành quan trọng; ứng dụng công nghệ thông minh phục vụ người dân và dự báo, quản lý trên một số lĩnh vực: nguồn nước, thời tiết, không khí, giao thông... Khai thác tối đa lợi thế thiên nhiên về nắng, gió để phát triển năng lượng tái tạo; đẩy nhanh tiến độ, sớm đưa vào vận hành các nhà máy điện gió theo quy hoạch. Đầu tư và thu hút đầu tư các nhà máy phân loại, xử lý chất thải, rác thải trong dân cư; kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải từ sản xuất, ô nhiễm tiếng ồn. Nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân.

(Còn tiếp)

Hữu Hiệp

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN