Nhìn lại 4 năm phát triển thủy sản ở Bình Đại

29/01/2010 - 08:33
Tàu về tại cảng cá Bình Thắng - Bình Đại. Ảnh: Hữu Hiệp

Qua 4 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX Đảng bộ huyện (nhiệm kỳ 2005-2010), tuy gặp không ít những khó khăn về thời tiết, giá cả thị trường không ổn định, dịch bệnh tôm, bị ảnh hưởng tình hình suy giảm kinh tế thế giới... song, Bình Đại đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về lĩnh vực phát triển thủy sản, tạo động lực để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân.

Để việc nuôi thủy sản phát triển đúng hướng, an toàn và hiệu quả, huyện kịp thời rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch chi tiết nuôi trồng thủy sản huyện, nuôi cá da trơn, tôm thẻ chân trắng v.v... Qua đó, để các nhà đầu tư và nhân dân an tâm sản xuất. Huyện đã và đang phối hợp triển khai nhiều chương trình, dự án thúc đẩy phát triển nuôi trồng thủy sản gắn với quy hoạch, đảm bảo phát huy tiềm năng, lợi thế từng đối tượng nuôi phù hợp với từng vùng và bảo vệ môi trường nuôi theo hướng an toàn và bền vững. Huyện đã hình thành các vùng nuôi tôm quảng canh, quảng canh cải tiến và xen rừng, nuôi thâm canh và bán thâm canh, nuôi quảng canh trên ruộng lúa, nuôi nghêu, sò, cua biển, nuôi thủy sản nước ngọt (cá sấu, cá tra, cá lóc...); phát triển vùng sản xuất tôm sú giống ở Thới Thuận, Thừa Đức, sản xuất cá nước ngọt ở Thới Lai, Thạnh Trị... Các công trình hạ tầng đầu tư phát triển nuôi thủy sản được các cấp, các ngành và các nhà đầu tư quan tâm thực hiện như công trình cống cấp, thoát cánh đồng Bé xã Thạnh Phước, cầu Mắc Miễu xã Đại Hòa Lộc, cầu Nò Sâu xã Thạnh Phước, công trình dẫn nước ngọt từ hồ chứa Ba Lai qua 4 xã: Thạnh Trị, Đại Hòa Lộc, Thạnh Phước và Thới Thuận...

Công tác khuyến ngư được đầu tư khá lớn, ngoài kinh phí khuyến ngư từ ngân sách huyện, các ngành chức năng tỉnh thường xuyên xây dựng và thực hiện nhiều mô hình để khuyến cáo người dân đa dạng hóa các đối tượng nuôi như: tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá chẻm, cá kèo, bống tượng, sặt rằn, rô đồng... Huyện đã xây dựng dự án trồng lúa trong ao nuôi tôm thâm canh; nuôi tôm càng xanh trong mương vườn từ nguồn vốn khoa học và công nghệ; thường xuyên tổ chức tập huấn, hội thảo nhằm trang bị cho người nuôi những kiến thức cơ bản về khoa học - kỹ thuật, an toàn vệ sinh thực phẩm, các qui định quản lý Nhà nước trên lĩnh vực thủy sản và những kinh nghiệm thực tế để áp dụng vào thực tiễn sản xuất. Qua 4 năm, đã tổ chức 193 lớp chuyển giao khoa học - kỹ thuật nuôi thủy sản, có 12.642 lượt người tham dự cho 3 xã: Thạnh Trị, Đại Hòa Lộc, Định Trung; phối hợp với Ban quản lý Chương trình FSPS II triển khai 13 mô hình trình diễn nuôi các đối tượng như cá rô đồng, cá rô phi dòng Gift, cá kèo, tôm càng xanh, cá bống tượng, cá sặt rằn cho các xã trong vùng dự án (Châu Hưng, Phú Vang, Phú Long, Bình Thới, Đại Hòa Lộc). Trước tình hình bệnh dịch tôm bùng phát (tháng 9-2009) tập trung ở các xã Thạnh Trị, Đại Hòa Lộc, Bình Thới, Định Trung, huyện đã phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cùng các ngành chức năng tỉnh kịp thời hỗ trợ hóa chất cho nông dân xử lý mầm bệnh; đồng thời tổ chức 6 lớp tập huấn về các biện pháp quản lý, phòng ngừa và trị bệnh cho tôm nuôi có 220 nông dân các xã Phú Long, Định Trung, Đại Hòa Lộc, Thạnh Trị tham dự để chủ động phòng ngừa dịch bệnh.

Tổng diện tích nuôi thủy sản huyện đạt 16.480 ha, tăng 755 ha so với năm 2006. Trong đó, diện tích nuôi tôm quảng canh và xen rừng 8.777 ha, nuôi thâm canh và bán thâm canh 3.655 ha, nuôi quảng canh trên ruộng lúa 649 ha, nuôi nghêu, sò 2. 874 ha, nuôi thủy sản nước ngọt 471 ha (trong đó nuôi cá tra 173 ha). Nhằm khắc phục và ngăn chặn tình trạng ô nhiễm môi trường nước hồ chứa Ba Lai, huyện tập trung phối hợp các ngành chức năng tỉnh và các xã ven sông Ba Lai tăng cường tuyên truyền thực hiện nghiêm các Chỉ thị của UBND tỉnh về phát triển nuôi cá tra khu vực cặp tuyến sông Ba Lai, khuyến khích các nhà đầu tư phát triển nuôi cá tra theo quy hoạch, thực hiện liên kết sản xuất, tiêu thụ, chế biến và xuất khẩu. Tổng sản lượng nuôi thủy sản toàn huyện bình quân hàng năm đạt 38.435 tấn. Trong đó, tôm nuôi đạt 13.495 tấn; hai hợp tác xã Thủy sản Rạng Đông và Đồng Tâm trong năm 2009 đã khai thác trên 3.200 tấn nghêu, sò các loại, doanh thu trên 84 tỷ đồng (trong đó, Hợp tác xã Rạng Đông đạt doanh thu trên 56 tỷ đồng, bình quân mỗi hộ xã viên được ăn chia trên 16,690 triệu đồng).

Trong năm 2009, tình hình nuôi thủy sản tương đối thuận lợi, giá tôm ổn định ở mức khá cao nên đa số các hộ nuôi đều có lợi nhuận. Diện tích nuôi tôm bị thiệt hại giảm đáng kể so với năm 2008. Huyện tăng cường lãnh đạo, quản lý phát triển nuôi thủy sản, Ban chỉ đạo vụ nuôi thủy sản huyện thường xuyên phối hợp các ngành hữu quan của tỉnh hướng dẫn, tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật, quan trắc môi trường, thực hiện tốt lịch thời vụ, tăng cường kiểm tra, phát huy vai trò cộng đồng trong bảo vệ môi trường nuôi thông qua hoạt động Ban quản lý vùng nuôi ở các xã, thị trấn. Kịp thời  sơ, tổng kết rút kinh nghiệm mùa vụ.

Cùng với lĩnh vực nuôi thủy sản, hoạt động đánh bắt, khai thác thủy sản tiếp tục phát triển. Tổng đoàn tàu hiện có 1.149 tàu/206.837 cv. Trong đó, đánh bắt xa bờ 472 tàu/182.653 cv (tăng 149 tàu so năm 2006). Sản lượng khai thác bình quân hàng năm đạt 41.531 tấn. Nhờ cải tiến ngư cụ, nâng công suất đánh bắt xa bờ, sản lượng khai thác đạt khá, giá nguyên liệu thủy sản tăng, đa số ngư dân đều có lợi nhuận cao. Hoạt động cảng cá Bình Thắng thường xuyên đổi mới quản lý, khai thác, tạo thuận lợi cho việc thu mua và phát triển các dịch vụ thủy sản, giải quyết việc làm cho người lao động. Các cơ sở công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thủy sản góp phần cùng với lĩnh vực nuôi và đánh bắt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế huyện. Giá trị sản xuất ngành thủy sản chiếm gần 80% giá trị sản xuất khu vực I.

Tuy nhiên, nghề nuôi thủy sản huyện đang đứng trước những khó khăn thách thức. Một vài nơi phát triển nuôi thủy sản còn mang tính tự phát, thiếu tính bền vững. Môi trường nuôi còn ô nhiễm, nguy cơ tiềm ẩn rủi ro còn cao do một bộ phận người nuôi tự ý bơm bùn ra kênh rạch khi tôm chết do dịch bệnh, không xử lý nước thải, làm lây lan các khu vực khác... Một bộ phận hộ nuôi không tuân thủ lịch thời vụ, chất lượng con giống không đảm bảo, cải tạo ao chưa kỹ... Con giống sản xuất tại địa phương mới đáp ứng khoảng 15% so với nhu cầu sản xuất vụ nuôi. Công tác quản lý nhà nước ở cơ sở chưa theo kịp tình hình phát triển, chậm phát hiện và xử lý vi phạm... Nguyên liệu thủy sản đa số còn ở dạng thô, giá trị thấp. Quy trình nuôi, đánh bắt, tiêu thụ, chế biến và xuất khẩu chưa đồng bộ, thiếu sự liên kết chặt chẽ.

Trước những khó khăn và thách thức đó, năm 2010 và giai đoạn tiếp theo, huyện tập trung phát triển vùng nuôi thủy sản theo quy hoạch, đảm bảo theo hướng bền vững, an toàn và hiệu quả; đẩy mạnh công tác giám sát môi trường, kiểm soát dịch bệnh, nâng cao ý thức quản lý theo hướng cộng đồng; không ngừng củng cố, nâng chất hoạt động Ban quản lý vùng nuôi ở các xã, thị trấn; đa dạng hóa các đối tượng nuôi thủy sản. Ngoài việc phát triển con tôm sú là chủ yếu, huyện khuyến khích người nuôi tận dụng ưu thế từng vùng để phát triển nghêu, sò, cua; thủy sản nước ngọt... Ngành thủy sản huyện thực hiện tốt lịch thời vụ, tăng cường hoạt động khuyến ngư; khuyến khích cải hoán, nâng công suất đánh bắt xa bờ, trang bị ngư cụ tiên tiến, gắn khai thác với phòng tránh bão lụt và tìm kiếm cứu nạn với đảm bảo an ninh quốc phòng; chú trọng bảo quản nguyên liệu sau đánh bắt, nâng dần tỷ trọng chế biến và xuất khẩu thủy sản; củng cố và phát triển làng nghề chế biến cá khô và các hoạt động dịch vụ hậu cần phục vụ nghề cá ở cảng cá Bình Thắng, giải quyết việc làm cho người lao động...

Hữu Khoa

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN