Ông Ba Lê Duẩn trải sóng gió Bến Tre

08/12/2010 - 08:42
Đồng chí Lê Duẩn thăm Đoàn 600-Bộ đội Quân khu VII làm kinh tế ở rừng Cát Tiên. Ảnh tư liệu

Hồi đình chiến năm 1954, Sáu Lùn vô Cà Mau chờ đi tập kết, nhưng được lịnh trở về cùng chị Ba Định. Chị đi công khai, Sáu Lùn đi đường du kích. Về tới Bến Tre, Sáu Lùn được giao nhiệm vụ bảo vệ và làm thơ ký riêng cho ông Mười Khước (Nguyễn Văn Khước), Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre (từ tháng 9 năm 1954 đến cuối năm 1958).

Sáu Lùn tên thật là Trần Quang Bính, mặt tròn, trán rộng, dáng người thấp bé nên dân làng gọi thành tục danh; quê xã Phú Túc (Châu Thành), đảng viên, con một đảng viên kỳ cựu. Một hôm, vào tháng 12-1955, ông Mười Khước dẫn Sáu Lùn đến nhà ông Mười Trác ở Sơn Đốc (Hiệp Hưng), một cơ sở đặc biệt tin cậy. Sau khi vào trong buồng hội kiến với một ông già phúc hậu, mắt sáng, râu dài, vóc người tầm thước, Bí thư Tỉnh ủy giới thiệu Sáu Lùn một cán bộ trẻ của Tỉnh ủy rồi nói với Sáu: “Đây là bác Chín, cán bộ của Đảng. Tỉnh ủy chuyển đồng chí qua bảo vệ và làm thơ ký cho bác…” Năm ấy Sáu Lùn 23 tuổi, bác Chín vỗ vai và hỏi chuyện thân mật. Chỗ làm việc của hai bác cháu lúc đó là trên chiếc giường đôi buông mùng để sát tủ thờ; mở cánh tủ thờ, bên dưới là hầm bí mật. Ban đầu, cứ đôi ba ngày, Sáu Lùn từ chỗ ông Mười Khước, tiếp nhận qua đường dây bí mật những thư từ, văn kiện từ trên gởi về, đem đến đọc cho bác Chín nghe và viết thư hồi âm… Cuối thư, bác bảo viết hai chữ Nho: “tam chi”. Sáu Lùn viết chữ “chi” có chấm đầu đúng sách, nhưng bác Chín bảo bỏ dấu chấm đầu, anh biện hộ, bác vỗ vai cười hiền nói: “Phải, nhưng bác lại không cần dấu chấm” đầu. Nghe theo mà anh chẳng hiểu gì hết. Có lần đọc tin Trung ương Đảng khai mạc… có câu bác bảo đọc lại hai lần: “Riêng đồng chí Lê Duẩn vắng mặt vì bận đi công tác ở Liên Xô”. Sáu Lùn cảm nhận có điều gì bí ẩn nhưng tuyệt nhiên không dám tò mò. Làm việc với bác Chín được chừng một tháng thì bác bàn với ông Mười Khước: “Cua bò lòi dấu. Phải để Sáu Lùn ở lại đây luôn, không dính dáng gì tới Mười Khước nữa, chỉ liên lạc nhau bằng thư từ”. Từ đó hai bác cháu cùng ăn, cùng ngủ, cùng ngồi trong mùng làm việc, gần gũi thân tình. Bác làm việc nghiêm túc, kỹ lưỡng, thận trọng. Hôm Sáu Lùn nhận tiền ở trên gởi về được 200.000 đồng, bác nhắc không được giữ tiền trong mình và kể ở Côn Đảo, các đồng chí mình chỉ vì trong túi có vài cắc bạc thôi mà phải đổ máu. Bác làm việc cật lực, gần như không có giây phút rảnh rang. Có những ngày liền, Sáu Lùn cúi khom người trên giường để viết. Bác Chín nghĩ nhiều, cân nhắc từng câu từng chữ rồi mới đọc cho anh viết; lắm lúc bác nói một mạch làm anh viết quíu tay không kịp. Có một câu bác nhấn mạnh mà Sáu Lùn nhớ dai: “Vị trí của cách mạng miền Nam là vô cùng quan trọng đối với Đông Dương”. Viết xong hàng mấy chục trang, bác bảo đọc lại cho nghe vài ba lần rồi bác bảo đốt đi.

Thường ngày bác Chín luôn theo dõi các báo của Sài Gòn và báo của Pháp như tờ Humanité, France Soir… Đọc được tin Norodom Sihanouk chuẩn bị trở về Cambodge, nhận định Kampuchia sẽ trung lập, bác Chín kêu Sáu Lùn viết thư khẩn, tuyệt mật gởi về Xứ ủy, đặt cơ sở tại Sài Gòn. Thư viết xong, bác bảo Sáu Lùn học thuộc lòng rồi hủy bỏ bức thư. Bác cho Sáu Lùn đi Sài Gòn để truyền đạt trực tiếp ngắn gọn vầy: Xúc tiến ngay việc đưa người qua Kampuchia xây dựng căn cứ, chuẩn bị dời đại bộ phận cơ quan sang đó!”. Bác Chín kiểm tra nhiều lần, nhắc đi nhắc lại ám hiệu, mật khẩu mới cho Sáu Lùn đi. Đóng bộ complet đúng mốt thầy chú, Sáu Lùn đi Sài Gòn bắt liên lạc cơ sở mật nội thành, gặp đồng chí Cao Đăng Chiếm chuyển tiếp đến đồng chí lãnh đạo Thường vụ Xứ ủy, truyền đạt đúng ý bác Chín.

Một hôm nhà ông Mười có đám giỗ, cô con gái lấy chồng xa về, bà Mười lu bu quên chuyện giữ bí mật. Cô con gái vô buồng trông thấy hai người đàn ông ngồi trong mùng, la hoảng; bà Mười trấn an không có chuyện gì xảy ra, nhưng bác Chín bảo dời chỗ. Được trên mật báo, địch ở Sài Gòn xác nhận Bí thư Trung ương cục Lê Duẩn còn ở lại miền Nam, chúng lùng sục ở Cà Mau chưa ra, nghi đã về Bến Tre. Ý thức cảnh giác, trước đó bác đã bảo chị Ba Định chỉ đạo đội “đặc nhiệm” bảo vệ bác Chín chuẩn bị mấy cơ sở dự phòng và bảo Sáu Lùn chuẩn bị căn cứ nổi lưu động trên sông. Chị Ba đã chuẩn bị chiếc ghe hứng giao Bảy Mật túc trực làm dân đánh cá. Sáu Lùn chuẩn bị ghe hứng của Bảy Câu, em bạn cột chèo với cha mình. Trước khi chuyển chỗ ở, bác Chín bảo Sáu Lùn lấy tiền ra tổ chức bữa cơm thân mật tạm chia tay với gia đình. Cùng ngồi ăn với ông bà Mười Trác, nói chuyện thân tình. Bác Chín khéo lồng những chuyện xưa ân nghĩa đáp đền, dẫn về hiện tại cách mạng không bao giờ quên ơn. Ông bà Mười hiểu ý lưu luyến rưng rưng nước mắt.

Dời về Hương Điểm, ở nhà bác Ba Quy, bác Chín và Sáu Lùn lại tiếp tục làm việc trong mùng, bên dưới là hầm bí mật. Khoảng một tháng thì có tin mật vụ dò la; lại chuyển về Tân Hào, ở nhà ông Chín Lương. Chưa được bao lâu, thám báo dồn về đây. Lại trở về nhà ông bà Mười Trác. Tuy cô con gái phát hiện, nhưng gia đình trung kiên. Thời gian này bác Chín bận rộn chuẩn bị hội nghị liên tỉnh phía Nam. Trước khi hội nghị, bác Chín cho mời Bí thư Tỉnh ủy Mười Khước và Năm Bảo - Phó Công an huyện Châu Thành (người được giao trách nhiệm xây dựng điểm cho hôỉi nghị) đến nhà ông Mười Trác để nghe kết quả công tác chuẩn bị. Bác Chín cẩn trọng ngồi ẩn mình bên trong nghe Năm Bảo báo cáo với Bí thư Mười Khước. Điểm hội nghị ấn định tại xã Lương Phú - Giồng Trôm, ngày họp, đêm nghỉ, nơi ăn ở của đại biểu các tỉnh về, đường phân tán, hầm bí mật khi có động; các điểm nổi, điểm chìm mọi chi tiết đều sắp đặt chu đáo. Bác Chín yên tâm.

Vào giữa tháng 4 năm 1956, hội nghị liên tỉnh được bí mật tiến hành trong hai ngày tại xã Lương Phú (Giồng Trôm). Nội dung chủ yếu là bác Chín nghe các tỉnh báo cáo tình hình. Hội nghị mới một ngày, Sáu Lùn đến gặp chị Ba đang dự hội nghị, lo lắng báo tin:

– Có động, chị Ba ơi! Thám báo đánh hơi nhà bác Mười Trác. Nghi lộ bác Chín quá!

– Tình hình tại đây cậu có nắm được không?

– Chưa nghe gì!

Lặng im chau đôi mày rậm một lúc, Chị Ba giọng nhỏ nhẻ:

– Cậu Sáu phải qua Mỏ Cày ngay, gặp Chín Bê Huyện ủy, bảo chọn cho một chỗ ở đặc biệt tin cậy. Cậu cùng với bên đó chuẩn bị ghe hứng Bảy Mật qua rước bác Chín. Bảo  cô Sết vợ cậu về nhà ông Mười Trác coi thu gom cho gọn mọi dấu vết, vật dùng quần áo của bác Chín cũng đem theo luôn và hẹn điểm tổ chức dẫn đường ra bến sông Hàm Luông.

Sáu Lùn quày quả đi. Chị Ba trở vào hội nghị, tỉnh như không có chuyện gì xảy ra. Nghe tỉnh nào cán bộ đảng viên và đồng bào cũng bị hy sinh mất mát nhiều quá, bác Chín trầm ngâm buồn, đôi mắt nhỏ nhìn sâu rưng rưng. Cán bộ hội nghị ai cũng đòi cho làm võ trang. Bác Chín bảo: “Đành rằng Mỹ-Diệm chà đạp Hiệp định Giơ-neo-vơ, nhưng ta thì chịu sự ràng buộc pháp lý đối với quốc tế, gần hơn là từ ông “bạn nhà” (ám chỉ Liên Xô. Bác Chín chỉ nói vậy, ai hiểu tới đâu hiểu). Cho nên muốn gì cũng phải được chủ trương thống nhất của Trung ương. Trước mắt ta vẫn phải dựa theo pháp lý hiệp định Giơ-neo-vơ, đấu tranh giữ gìn và trang trải ruộng đất cho nông dân ở vùng căn cứ, tiếp tục đường lối đấu tranh chính trị…”

Hôm sau họp xong, theo kế hoạch trù liệu chu đáo, tất cả di tản các ngả. Bác Chín mặc pyjama trắng, cầm dù. Vợ Sáu Lùn là Đoàn Thị Sết (người được ông Mười Khước và chị Ba tác thành hạnh phúc sau khi Sáu Lùn trở về) xách giỏ đi sau. Một nông dân vác cuốc đi trước xa xa dẫn đường. Trời xế chiều, nắng gắt, phải đi bộ khá xa mới tới mé sông Hàm Luông. Bác Chín xuống ghe hứng của Bảy Mật và Sáu Lùn được chuẩn bị sẵn từ trước. Ông Mười Khước và chị Ba Định cùng bước xuống theo.

Trời vừa khuất mình, mặt sông Hàm Luông xanh thẫm thêm phần mênh mông. Gian cây đầu Cồn Ốc nổi hẳn lên trên rừng dừa mờ xa bên cù lao Minh. Lửa tín hiệu nhấp nháy bên kia sông chỉ có Bảy Mật nhận biết. Chiếc ghe hứng tách bến, giương đôi gọng hứng kềnh càng đâm qua sông. Bảy Mật chèo lái, Sáu Lùn chèo mũi; bác Chín, ông Mười Khước và chị Ba Định ngồi trong mui trò chuyện. Sáu Lùn nghe bác Chín phân tích âm mưu thủ đoạn khủng bố của địch. Địa chủ ngóc đầu dậy, nhưng tinh thần căm thù của quần chúng càng lên cao… Bác Chín nhấn mạnh: “Phải đấu tranh chính trị. Nhưng trước mắt là phải sẵn sàng tư thế xây dựng lực lượng võ trang, bảo vệ thực lực. Có thể dự kiến phương châm phương thức: đến lúc rồi phải đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh võ trang mới phù hợp thực tiễn tình hình của miền Nam… Phải biết và phải nắm thời cơ nào sử dụng bạo lực…”. Nghe vậy chị Ba hồ hởi: “Vậy thì hay lắm! Hợp nguyện vọng bà con lắm!”  Rồi chị cùng ông Mười Khước bàn thảo một lúc. Chị Ba nêu lên thắc mắc: “Nhưng…quân nó đông; bộ máy tổ chức chặt chẽ! Còn mình? Bộ đội đi tập kết hết! Súng chôn bị khui gần hết, còn cũng sét ăn hết! Làm sao kết hợp võ trang?” - Bác Chín thận trọng lựa lời: “Nếu tình hình buộc phải tới đó thì sẽ có chi viện thêm người và vũ khí - bác Chín ngừng một lúc, tiếp - Xuyên Trường Sơn và vượt biển Đông… như hồi đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, các anh và chính cô Ba đã từng vượt biển… Nhưng thôi! Bàn xa quá chưa tiện. Trước mắt phải giữ cho nông dân còn ruộng đất. Và… phát huy thế hợp pháp mà bẻ lại luật lệ phản động của chúng”. Chị Ba vẫn chưa yên, nóng ruột hỏi ráng:  

– Cái chuyện vũ khí thì có thể phát huy tinh thần tự lực. Chỉ cần có lịnh Trung ương cho làm võ trang thì có súng? Anh Ba làm sao có nghị quyết Trung ương mau mau đi!         

– Tôi còn bềnh bồng trên sông ở đây mà mau mau sao được!

Ghe qua sông, vô vàm Cái Quao thuộc xã Bình Khánh, chèo vào sâu trong ngọn rậm rạp lá dừa nước hai bên bờ, trên thôn xóm rừng dừa bạt ngàn. Chín Bê huyện ủy được lịnh đã lo chu đáo. Bác Chín được bố trí ở nhà Năm Sơn - Bí thư Chi bộ ấp Phước Lý, sau chuyển xuống nhà ông Từ Lư cho êm hơn. Chị Ba về nhà đóng Văn phòng Tỉnh ủy, mời ông Từ Lư  lại dặn dò:

– Đây là bác Chín, cán bộ của Đảng, nếu bà con có tới, chú nói là ông anh họ ở Rạch Giá lên chơi. Tránh tiếp xúc, bởi giọng bác khó nghe. Canh chừng thám báo, thấy cần thì đưa bác vô hầm bí mật. Có Tỉnh ủy, Huyện ủy bên cạnh, Chi bộ ráng bảo vệ an toàn bác Chín.

         Tôi hiểu. Chín Bê, Năm Sơn đã nói rồi, cô Ba yên tâm...

         Đầu tháng 7-1956, Sáu Lùn lên Sài Gòn móc nối, tổ chức đường dây đưa bác Chín về trên. Sau thời gian làm việc, trí não căng thẳng, nỗi lòng không yên, bác Chín cảm mệỉt. Vợ chồng ông Từ Lư lo thuốc men, cơm cháo bồi dưỡng, bác Chín đỡ. Một hôm bác bảo Bảy Mật đem ghe ra sông hứng. Bảy Mật bàn với Năm Sơn và ông Từ Lư. Xét bác Chín cải trang hệt ông già nông dân nhà quê, ở trên ghe hứng như căn cứ nổi lưu động, khéo léo tránh lính, tránh dân, nên cả ba người nhứt trí. Được xuống ghe đón gió sông khoan khoái, bác Chín vui lắm. Bác Chín hứng được mấy con tép bạc đất thiệt lớn, bác bảo xỏ lụi nướng ăn bồi dưỡng. Trong những ngày chờ đợi Sáu Lùn trở về, bác Chín hay thở dài, bồn chồn. Những nỗi đau, nguyện vọng bức xúc của dân và cán bộ cùng với cuộc trò chuyện vớùi Mười Khước, Ba Định hầu như luôn ám ảnh bác. Bác bảo Bảy Mật chèo ghe đi Vàm Rổng hứng. Có thêm ghe của hai đoàn viên Thanh Lao theo hộ vệ. Đến đây vùng giải phóng cũ, tình hình yên, Bác Chín ở nhiều ngày, nghỉ ngơi, ăn tôm cua tha hồ, lấy lại sức nhanh, bác bảo Bảy Mật chèo ghe hứng đi xem xét địa hình địa thế Cồn Bửng, Cồn Lợi, Cồn Chim, Khâu Băng, Hồ Cỏ…ven biển Thạnh Phú. Với tầm chiến lược, trong tâm tưởng bác Chín dự báo khả năng thực hiện phương án chi viện vũ khí cho Bến Tre và Nam bộ bằng con đường biển…

         Ngày 5-7-1956, Sáu Lùn đi Sài Gòn trở về, đưa bác Chín lên đường về trên. Theo kế hoạch sắp đặt và bố trí đội bảo vệ cảnh giới, Bảy Mật chèo ghe hứng đưa bác Chín đến điểm hẹn là vàm ngã ba Cây Da - Hiệp Hưng đúng 5 giờ chiều. Hai vợ chồng Sáu Lùn cũng đi bằng ghe hứng đến rước bác Chín, để hôm sau đưa tiếp sang điểm hẹn với hệ đường dây của Xứ ủy bên Mỹ Tho. Sáu Lùn đến đúng hẹn nhận ra “hoa tiêu” bằng nhánh cây vạt một mặt cặm sát mép nước của Bảy Mật. Đôi bên sắp giao nhận, bỗng nghe tiếng la từ trên bờ gần đó. Tiếp theo là một loạt súng nổ. Vừa lúc có một người chạy vọt ra đồng. Sáu Lùn ngó theo, thấy anh thanh niên tay cầm cây roi giữ vịt, chắc trốn lính, bị lính rượt, chạy gần điểm của Bảy Mật đậu ghe chở bác Chín. Tụi lính mải mê đuổi theo anh giữ vịt, không phát hiện ra ghe của Bảy Mật. Vợ chồng Sáu Lùn tức tốc dìu bác Chín qua ghe mình, không kịp nói với Bảy Mật tiếng nào, vọt đi luôn. Bảy Mật cũng vậy, chẳng kịp chào tạm biệt bác Chín. Hai ghe đều lo bơi chèo, tản nhanh.

         Mở hết tốc lực, cô Sết cùng Sáu Lùn, chồng chèo, vợ bơi không kịp thở, cứ sợ địch đuổi theo. Vừa ra tới sông Hàm Luông thì một chiếc tàu nhà binh cặp mé bên này từ vàm Bến Tre chạy xuống. Sông rộng, từ xa nhìn thông thống.

           Tàu đã thấy ghe mình rồi! - Cô Sết kêu lên thảng thốt. 

         Nghe vợ kêu, Sáu Lùn miệng động viên “bình tĩnh” mà thót ruột. Bây giờ quày trở vô cũng không kịp, không chừng lại đụng lính. Mình lộ vẻ sợ, chắc chắn tàu địch thấy sẽ đuổi theo! Nghĩ đoạn, Sáu Lùn ra lệnh cho vợ:

         – Em bơi mạnh lên! Cứ lướt tới thôi! Mặc kệ tàu!

         Phút chốc chiếc tàu ào qua ngược chiều mũi ghe. Vợ chồng Sáu Lùn thở hào hển, cố kềm ghe chịu sóng cuộn sau đuôi tàu, ghe nhồi lắc dữ dội suýt chìm! Chỉ lo bác Chín có bề gì thì đắc tội, ân hận suốt đời! Qua được hai cơn lưng tim, Sáu Lùn hướng mũi ghe cho qua sông. Bấy giờ hai vợ chồng đã tách khỏi đội bảo vệ của Tỉnh ủy, mọi sự xảy ra tự lo liệu lấy. Cô Sết khom tấm lưng thon gầy vươn tới, bơi mạnh cật lực. Đến giữa sông, mây đen kéo đến vần vũ tối mịt bầu trời. Gió thổi ngược ào ào. Mưa tuôn xối xả. Ghe có mui, gọng hứng kềnh càng, gió bê, sóng dồi dữ dội, vợ chồng Sáu Lùn run trong bụng song cố giữ vững tinh thần, bơi chèo bền bỉ. Chòng chành hồi lâu, mưa gió qua. Nhưng ghe thì chưa qua được hai phần sông. Bỗng một chiếc tàu lớn từ dưới Tân Thủy lù lù chạy lên thẳng hướng ghe Sáu Lùn đang qua sông. Trời chưa tối, tạnh mưa, mặt sông vẫn sáng đến mức đọc rõ những chữ số trên thân tàu. Hướng vàm Băng Cung bên trái phía trước cũng có nhiều chiếc tàu cắm cờ ba que rụ máy lớn chạy lên, súng nổ và lính la hét ầm ĩ. Vợ chồng Sáu Lùn ráng sức chèo nhanh vô bờ. Đang lúc nguy nan, lại gãy bánh lái ghe, tay lái văng xuống sông! Chiếc ghe điều khiển bằng chèo một cây bất kham. Lênh  đênh giữa dòng, sóng lừng, gió mạnh đánh bạt mũi ghe quay cuồng. Sáu Lùn nghĩ: chạy cũng không khỏi được tàu, liền nói với bác Chín:

         – Thưa bác Chín. Chỉ còn nước hợp pháp với nó thôi! Em Sết! Lấy khăn choàng đầu cho Bác Chín rồi banh miệng hứng ra cho bác làm bộ ngồi vá. Còn em nhóm lửa nấu cơm.

         Cô Sết thực hiện nhanh ý chồng. Bác Chín y hệt một ngư dân ngồi vá lưới. Khi chiếc tàu địch gần tới, Sáu Lùn hỏi bác Chín:

         – Cho phép con chủ động ngoắt tàu nó cho mình vòng dây kéo? - Bác Chín gật đầu. Sáu Lùn vừa ngoắt vừa la réo giọng thảm thiết - Ghe hứng tôi gặp nạn, gãy bánh lái lênh đênh giữa dòng, phần sóng to gió ngược, các ngài quân đội quốc gia làm ơn cho vòng dây kéo cứu hô-ộ-ộ!…

         Chiếc tàu tốp máy, cặp sát ghe cho Sáu Lùn cầm dây vòng nhảy lên tàu, kéo ghe chạy theo. Vài tên lính chỉ ngó vào trong mui thấy ông già đen hù ngồi vá lưới và người đàn bà nấu cơm, rồi thôi chẳng tỏ ra nghi ngờ gì. Sáu Lùn làm quen với tụi lính, hỏi dò tình hình mới biết là hôm ấy địch mở cuộc càn lớn vào Thạnh Phú. Tàu kéo ghe chạy theo được khá xa, Sáu Lùn làm bộ vuột dây vòng, nhảy ùm xuống sông. Bọn lính tưởng thiệt, cười ầm lên, chạy luôn. Nhờ tàu kéo cũng đỡ, vậy mà mãi khuya, vợ chồng Sáu Lùn mướt mồ hôi mới điều chiếc ghe không bánh lái tới điểm trinh sát của tỉnh ủy đón để thông báo địch tình an toàn chặng đường tới. Đến đây, bác Chín được lên nhà dùng cơm và nghỉ đêm.

         Bốn giờ sáng hôm sau, chiếc ghe hứng của vợ chồng Sáu Lùn lại chở bác Chín lên đường. Bác Chín trùm mền nằm trong mui, phòng khi gặp địch trả lời ăn khớp, dâu con nó đưa ba đi nhà thương Mỹ Tho trị bệnh. Ghe men Cồn Ốc, qua vàm Bến Tre, lên Cái Nứa, vô kinh Mã - sông Ba Lai, rồi sang kinh Điều ra sông Tiền, lên mỏm cù lao Thới Sơn. Toàn đi gió ngược, nên 5 giờ chiều mới đến Phú Túc. Một điểm dừng chính quê nhà của Sáu Lùn, được bố trí cảnh giới, để móc nối điểm đón bên Bình Đức - Mỹ Tho. Theo hẹn với Dương Vi Tươi - cán bộ của Xứ ủy, đúng 5 giờ phải đến bên đó, mà giờ nầy còn ở đây! Sáu Lùn quyết định đưa bác Chín sang ghe của cha mình cùng người bà con sẽ đưa đi sau, còn vợ chồng anh chèo ghe nhỏ cấp tốc sang bên Bình Đức, dọ tình hình chỗ đón coi ra sao? Gần tới bờ, Sáu Lùn trông thấy trước hãng nước mắm Bình Đức một chiếc xe du lịch màu đen đậu cách đồn địch chừng năm trăm thước, trẻ con bu xung quanh khá đông. Có lẽ chờ quá thời gian qui ước, chiếc xe quay về! Còn ở ngoài sông, kêu réo chẳng ai nghe càng thêm lộ. Sáu Lùn tiếc ngẩn ngơ, buông một câu buồn động viên vợ:

         – Thương em bơi sái cánh tay mà tại trời gió ngược!

         Vợ chồng Sáu Lùn chèo ghe trở về. Nghĩ, nếu chèo nước ngược vòng lên hết mỏm cù lao Thới Sơn thì lâu, sợ bác Chín trông mà cha cũng lo lắng nên anh đậu ghe bên này cù lao, lên đi bộ băng tắt ngang về cho nhanh. Khi được nghe báo tình hình, bác Chín không tỏ ra tiếc gì mà băn khoăn hỏi:

         – Thím Sết đâu?

         – Thưa bác. Vợ con giữ ghe bên kia cù lao.

           Chú quay trở lại rước thím ấy về ngay! Đêm tối, sông nước mênh mông, thân gái một mình! Sao mà chú bỏ thím ấy một mình, vậy là không được! Đi rước thím Sết về ngay!

          Đúng là vợ mình rất sợ đêm tối mà sao lúc bấy giờ Sáu Lùn không kịp nhớ. Lần đầu Sáu Lùn mới thấy bác Chín có vẻ giận, giọng xẵng lè. Hồi mới gặp, bác nói giọng miền Trung khó nghe nhưng nghe quen rồi trở nên thân thương, đến giờ bị bác Chín rầy nghe ngọt ngào, cảm động ứa nước mắt!  

         Thế là Sáu Lùn phải trở lên Sài Gòn hẹn điểm lại lần nữa. Những ngày Sáu Lùn đi Sài Gòn, giao bác Chín cho cha mình là ông Hai (đảng viên kỳ cựu) bảo bọc. Ông Hai năm ấy tuổi bảy mươi ngoài, được con mình giao một việc quan trọng mà tuyệt đối không được lộ, kể cả trong chi bộ, ông hết sức lo lắng! Khi ông đem cơm xuống ghe hứng của Bảy Câu - em rể, nhận ra người cán bộ của Đảng là một ông già râu dài, mặt phúc hậu như ông tiên. Ông chỉ gật đầu chào chớ chẳng dám hỏi han gì theo lời con dặn. Bác Chín cũng lặng im chào lại. Kỳ đó bác Chín phải ở trên ghe hứng của Bảy Câu ngót mười ngày. Kể cũng mạo hiểm. Chiếc ghe hứng cứ hứng tôm cá lênh đênh ngoài sông Tiền, cách bót Phú Túc vài trăm thước. Ông Hai trên bờ theo dõi địch tình và tới bữa đem cơm nước.

         Sáu Lùn đi Sài Gòn trở về, viết bạch thư báo cáo với chị Ba tình hình suôn sẻ. Chị Ba cho đội bảo vệ bí mật bám theo để phòng bất trắc. Lần thứ hai, bác Chín lên đường vào ngày 14-7-1956. Trước khi đi, anh bảo vợ may cho bác Chín bộ complet. Nhưng bác bảo: “Lâu nay quen mặc bà ba đen, mặc đồ Tây lóng cóng dễ lộ. Giờ để lại bộ cũ, may cho bác bộ pyjama màu hột gà và mua cho bác cái nón nylon”. Sáu Lùn sắm bộ đồ nghề hớt tóc, tự tay hớt tóc và cạo sửa râu cho bác Chín. Bây giờ thì bác trẻ ra, trông như ông điền chủ miệt vườn. Ông Hai - cha của Sáu Lùn và người em Út giả đi thăm bà con, chèo ghe sang trước, cách điểm hẹn là cống Song Thuận (ngã ba lộ Tây Hòa) năm chục mét, cảnh giới. Vợ chồng Sáu Lùn ngụy trang ghe bán dừa chuối, đưa bác Chín đi sau. Khi đến nơi, Sáu Lùn dìu Bác Chín lên bờ. Bác đưa mắt thân thiết chào tạm biệt cô Sết! Cô Sết ở lại giữ ghe, kín đáo lau nước mắt!… Sáu Lùn đưa bác Chín vào căn nhà nhỏ bên cống Song Thuận. Bác Chín tặng Sáu Lùn chiếc đồng hồ đeo tay làm kỷ niệm, dặn dò bao chuyện, chan chứa ân tình!…

         Năm phút sau, y giờ hiệp đồng, một chiếc xe du lịch bắt đúng ám tín hiệu giữa hai bên, nhanh chóng rước bác Chín lên Sài Gòn. Năm phút chia tay ngắn ngủi mà tình cảm đối với Sáu Lùn dài suốt đời, lòng nghe xốn xang, nghèn nghẹn!...

         Sau đó vợ chồng Sáu Lùn được điều lên Sài Gòn hoạt động, bởi anh bị địch ở Bến  Tre theo dõi. Anh gặp lại Dương Vi Tươi, được nghe kể về bác Chín lên Sài Gòn, ở điểm nào hễ vừa đi là địch tới chụp, chụp vét ót hoài; cho đến nay ổng chắc ra tới Hà Nội rồi.(1) Anh Tươi nói thêm một câu thân mật: “Ông Ba Lê Duẩn gởi lời thăm vợ chồng mầy”. Sáu Lùn ngớ ra, mình chưa hề quen tên người này bao giờ? Lục vấn ký ức mãi anh mới nhớ ra lần đầu viết thư cho bác Chín ký, viết hai chữ nho “tam chi”, bác bảo bỏ chấm đầu chữ chi. Thì ra: tam là Ba, chi không có chấm đầu là chữ Z. Từng nghe tên tuổi Bí thư Trung ương cục, vậy mà bấy lâu kề cận… Sáu Lùn khẽ nhìn cườm tay mình đang đeo cái đồng hồ Oméga của ông Ba Lê Duẩn tặng, lòng nghe sung sướng bồi hồi!

------------------------------

(1)- Sau Hiệp định Genève, giải thể TWC, thành lập Xứ ủy Nam bộ, Lê Duẩn làm Bí thư, khi về Hà Nội, Phạm Hữu Lầu -  Ủy viên Thường vụ lên thay. Năm 1978, Tổng Bí thư Lê Duẩn về thăm Bến Tre, có đến thăm ông Mười Trác ở Hưng Lễ; không quên đến Phú Túc thăm Sáu Lùn và thắp nhang tưởng nhớ hương hồn thím Đoàn Thị Sết hy sinh, còn anh bị tù Côn Đảo, 30-4-1975 được giải phóng.   

THANH GIANG

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN