Phân tích chuỗi giá trị cây dừa

10/03/2010 - 08:40
Tạo sản phẩm mỹ nghệ từ dừa, giải quyết được nhiều lao động. Ảnh: P.Y

Chuỗi giá trị là chuỗi của các hoạt động. Sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động của các chuỗi theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản phẩm thu được một số giá trị nào đó. Chuỗi các hoạt động cung cấp cho các sản phẩm nhiều giá trị gia tăng hơn tổng giá trị gia tăng của tất cả các hoạt động cộng lại.

(Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

Bến Tre là tỉnh có diện tích dừa lớn nhất nước, với trên 49.000ha. Sản lượng dừa hàng năm trên 360 triệu trái và có hơn 70% nông dân gắn bó với dừa. Có thể nói dừa là cây xóa nghèo, bởi các khâu sản xuất, chế biến từ dừa giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động, giúp nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người dân. Hiện tại, ngoài 2 dự án phát triển vườn dừa (thâm canh 1.000ha dừa và trồng mới 5.000ha dừa giai đoạn 2005-2010) đang triển khai thực hiện, Dự án Phát triển kinh doanh với người nghèo nông thôn (DBRP) bắt đầu tham gia phân tích chuỗi giá trị cây dừa. Mục tiêu của Dự án DBRP nhằm xây dựng và hỗ trợ ngành dừa, trong đó đặc biệt chú ý đến các khâu, công đoạn mang lại lợi ích cho người nghèo; tăng cường năng lực cho các bên liên quan nhằm giúp phát triển nền công nghiệp chế biến dừa bền vững. Theo đánh giá ban đầu, qua phân tích chuỗi giá trị cho thấy, có thể tăng thu nhập và giảm nghèo cho nông dân qua việc phát triển các khâu này.

Theo phân tích của dự án, chuỗi giá trị cây dừa gồm các khâu: đầu vào, trồng, thu gom, chế biến, vận chuyển và tiêu thụ. Các khâu này được dự án khảo sát thực tế, chọn lọc, phân tích, đánh giá nhằm tìm ra những giá trị, thông tin cần thiết để có định hướng tác động nhằm nâng cao giá trị cây dừa theo từng khâu cụ thể, đặc biệt có sự tham gia của người nghèo như giải quyết việc làm tạo thu nhập.

Trước hết nói về khâu đầu vào. Theo khảo sát của dự án, hiện nay, người trồng dừa Bến Tre đang sử dụng rất nhiều loại giống khác nhau như dừa ta, dừa dâu, dừa dứa, dừa xiêm, dừa lùn… Đa số người trồng đều sản xuất giống tại gia đình hoặc mua dừa trái ở những nơi lân cận về ươm (70%). Số còn lại trồng với qui mô lớn, mua giống ở các điểm sản xuất nhỏ trong xã, huyện, Trung tâm giống của tỉnh hoặc Trung tâm Thực nghiệm dừa Đồng Gò (Viện Nghiên cứu cây có dầu - Bộ Công nghiệp). Về phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, do phần lớn các hộ sản xuất với qui mô nhỏ (chiếm 85%) nên phân bón và hóa chất mua chủ yếu tại các tiệm tạp hóa hoặc các điểm bán lẻ trong ấp, xã. Dù giá cả có đắt nhưng người mua phải chấp nhận.

Có một thực tế, người sản xuất không có nhiều điều kiện (cả chủ quan lẫn khách quan) để mua giống tốt, năng suất cao ở các Trung tâm sản xuất giống cây trồng, nên phải mua giống ở địa phương, năng suất thấp, không hiệu quả; thiếu vốn nên không thể dự trữ vật tư, chỉ mua khi cần thiết, hoặc mua thiếu, trả lãi suất khi đến vụ thu hoạch. Những hộ cung cấp vật tư, nguyên liệu phải bán gối đầu cho các hộ sản xuất nên gặp khó khăn về vốn để dự trữ vật tư. Ngoài ra, do đa số người dân sản xuất nhỏ, nhu cầu sử dụng vật tư không nhiều nên hạn chế khả năng mở rộng kinh doanh của các hộ cung cấp vật tư nguyên liệu. Các doanh nghiệp hoạt động chủ yếu dựa trên nguồn vốn vay từ các ngân hàng. Mặc dù thủ tục cho vay khá nhanh và đơn giản nhưng mức cho vay vốn của các ngân hàng có hạn, lãi suất cao, thời gian cho vay vốn ngắn (chỉ từ 1 đến 3 năm) nên không đáp ứng được yêu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh của người dân và doanh nghiệp.

Phân tích ở khâu này, người lao động nghèo có thể tham gia giúp cho những hộ trồng có diện tích lớn, vận chuyển cây giống, mua các loại vật tư phân bón, hóa chất... Qua khảo sát có 50% hộ nghèo làm thuê cho các hộ sản xuất.

Đối với khâu trồng dừa, có 84%  hộ dân trồng dừa tham gia trực tiếp vào sản xuất, còn 16% hộ có thuê người làm (những hộ trồng với qui mô lớn). Người đi làm thuê tham gia chủ yếu vào các khâu chăm sóc, thu hoạch và vận chuyển đi bán cho chủ hộ. Người làm thuê đa số là những hộ nghèo không có đất hoặc có ít đất sản xuất ở trong ấp, xã.

Trong khâu thu gom, 65% các hộ buôn bán nhỏ đến từng hộ gia đình trồng dừa để thu mua, 35% hộ buôn bán nhỏ mua tại các điểm thu gom; 30% thương lái cho người đến thu mua trực tiếp từ các hộ gia đình, 70% thương lái mua tại cơ sở  thu mua của mình. Các hộ sản xuất cho biết, bán dừa tại nhà giá thấp hơn so với đem đến các cơ sở thu mua nhưng vẫn phải bán vì số lượng không đáng kể, không có công lao động và phương tiện vận chuyển đến nơi, mặt khác do đường giao thông trong thôn xóm hẹp, mùa mưa đường lầy lội, đi lại khó khăn không tự vận chuyển được.

Dừa sau khi được các hộ buôn bán nhỏ và thương lái mua: một phần bán trực tiếp cho các tàu mua dừa neo đậu trên sông Hàm Luông, mỗi năm khoảng 102 triệu trái; một phần bán cho các cơ sở sản xuất lớn (khoảng 180 triệu trái), các hộ cá thể chế biến trái dừa trong tỉnh (khoảng 25 triệu trái) và bán cho các tỉnh lân cận.

Ở khâu này, người nghèo làm thuê cho các hộ buôn bán nhỏ và thương lái như đến từng hộ trồng dừa mua dừa trái và các nguyên liệu từ dừa (cây dừa, vỏ dừa, cọng dừa, gáo dừa…) và tham gia vận chuyển đến các cơ sở chế biến hoặc vận chuyển thẳng đến các tàu dừa neo đậu trên sông Hàm Luông.

(Còn tiếp)

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN