Phát triển ngành dừa – từ dự án VIE/96/005 đến dự án DBRP

20/01/2010 - 08:43
Dừa Bến Tre. Ảnh: P.Y

Năm 1996, Chương trình Phát triển Liên hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam đã tài trợ cho tỉnh Bến Tre thực hiện Dự án nâng cao năng lực xóa đói giảm nghèo. Đây là dự án hỗ trợ kỹ thuật có mục tiêu, nhằm nâng cao năng lực cho các cấp của tỉnh xây dựng và thực hiện các kế hoạch giảm nghèo của địa phương.

Dự án được thực hiện trong thời gian 4 năm. Một trong các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật của Dự án VIE/96/005 là cử các chuyên gia tư vấn trong và ngoài nước đến Bến Tre nghiên cứu và đề xuất xây dựng các kế hoạch phát triển trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Trong thời gian này, tỉnh Bến Tre đề xuất Dự án nghiên cứu đánh giá hiện trạng sản xuất và sử dụng dừa của tỉnh và đề xuất kế hoạch phát triển ngành dừa. Ông H.A Tillerkeratne, Chủ tịch Cơ quan Phát triển Dừa (Coconut Development Authority) của Sri Lanca được chọn là chuyên gia nước ngoài thực hiện cuộc khảo sát, đánh giá này.

Ngành dừa của tỉnh Bến Tre trong giai đoạn 1990-1996 chưa thật sự phát triển. Theo số liệu nghiên cứu năm 1996, cả tỉnh chỉ có 33.000ha dừa, trong đó khoảng 29.000ha cho trái. Diện tích dừa phân bổ nhiều nhất là các huyện: Giồng Trôm, Mỏ Cày, Châu Thành và Bình Đại. Sản lượng trái chỉ khoảng 200 triệu trái/năm. Bình quân một cây dừa chỉ cho trái cao nhất là 34 trái/năm. Diện tích dừa và sản lượng đều tiếp tục giảm so với những năm 1980. Liên tục những năm sau đó, người dân Bến Tre không còn mặn mà với cây dừa. Họ đốn dừa và thay vào đó là trồng các loại cây ăn trái có giá khác (chủ yếu là nhãn, chôm chôm). Về sử dụng và chế biến dừa, theo báo cáo khảo sát của Dự án VIE/96/005, với sản lượng 200 triệu trái/năm, Bến Tre sử dụng cho 3 mục đích cơ bản: tiêu thụ tại chỗ (dùng trong gia đình, chế biến các món ăn, thức ăn gia súc, gia cầm); xuất khẩu dừa nguyên trái; chế biến các sản phẩm dừa công nghiệp. Qua khảo sát các doanh nghiệp, sản phẩm chính từ dừa của tỉnh được sản xuất trong năm 1997 về trước chủ yếu là sản xuất dầu dừa từ cơm dừa khô, một số rất ít cơm dừa nạo nấy, đa số còn lại là chỉ xơ dừa, than thiêu kết và hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa.

Hạn chế của ngành dừa Bến Tre trong giai đoạn này chủ yếu là thiếu một đầu mối thống nhất trong quản lý ngành dừa từ các khâu trồng, chế biến, tiêu thị, thị trường (Bến Tre không giống một số nước như Sri Lanca, Phillippines, ngành dừa được quản lý thống nhất bởi một cơ quan và có chính sách phát triển cụ thể); thiếu nghiên cứu và phát triển (R&D) trong lĩnh vực chế biến dừa; thiếu thông tin về công nghệ chế biến; thiếu thông tin về thị trường (giá dừa lúc bấy giờ chỉ phụ thuộc vào giá mua dừa nguyên trái của các tàu dừa xuất đi Trung Quốc); thiếu xúc tiến thị trường; và thiếu cơ sở, phương tiện kiểm tra sản phẩm sau khi chế biến.

 Dự án VIE/96/005 cũng đề xuất cho tỉnh các giải pháp phát triển ngành dừa, từ tăng cường khâu khuyến nông cung cấp kỹ thuật trồng dừa để nâng cao sản lượng đến các khâu sau thu hoạch, chế biến, thông tin, thị trường. Đặc biệt, Dự án khuyến nghị tỉnh có cơ chế quản lý ngành dừa thống nhất để tập trung phát triển và nâng cao vị thế ngành dừa của Bến Tre. Nhiều khuyến nghị của Dự án đã được lãnh đạo tỉnh Bến Tre quan tâm và tập trung đầu tư trong những năm sau đó. Từ năm 1999, các hoạt động xúc tiến, mời gọi đầu tư đã được tỉnh chú ý và tăng cường cho ngành dừa, nhất là xây dựng danh mục mời gọi đầu tư và ban hành nhiều ưu đãi cho các nhà đầu tư chế biến các sản phẩm từ dừa. Điển hình cho hoạt động này là Sở Kế hoạch và Đầu tư Bến Tre đã mời gọi thành công các nhà đầu tư từ Malaysia (Công ty TNHH Chế biến dừa) và Sri Lanca (Công ty Liên doanh Silvermill-Treximco) xây dựng nhà máy chế biến các sản phẩm dừa mới mà trước đây tỉnh chưa sản xuất được. Hai công ty này đã đầu tư tổng cộng trên 6 triệu USD chế biến sản phẩm cơm dừa nạo sấy, bột sữa dừa và là một trong những người tiên phong đưa sản phẩm cơm dừa nạo sấy của Bến Tre thâm nhập thị trường thế giới. Thành công bước đầu của hai công ty này đã kéo theo sự ra đời của hàng hoạt nhà máy cơm dừa nạo sấy tư nhân khác. Và cũng chính sự ra đời của các nhà máy đã đẩy giá dừa tăng lên gấp 3-5 lần so với giá của năm 1997.

Cây dừa trở nên có giá và người trồng dừa Bến Tre hưởng lợi nên góp phần làm tăng diện tích dừa của tỉnh. Đến năm 2008, diện tích dừa của tỉnh tăng 36% so với năm 1996. Hiện nay, ngành chế biến dừa đã phát triển khá mạnh và hầu hết các sản phẩm có giá trị gia tăng đều được các nhà đầu tư trong và ngoài nước chế biến tại tỉnh Bến Tre như cơm dừa nạo sấy chất lượng cao, bột sữa dừa, sữa dừa tươi, than hoạt tính, đất sạch….Như vậy, từ những khởi sự ban đầu về nghiên cứu ngành dừa của Dự án VIE/96/005, Bến Tre đã có bước đi khá tốt nhằm nâng cao vị thế ngành dừa và không ngừng phát triển ngành dừa, cả về khâu sản xuất và chế biến, tiêu thụ. Năng lực chế biến của ngành dừa được tăng cường và đủ mạnh để cạnh tranh tốt với các nước trong khu vực.

(Còn tiếp)

Nguyễn Trúc Sơn (Giám đốc IPC Bến Tre)

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN