Quê Dừa yêu dấu

03/04/2015 - 07:17
Nghề đan giỏ cọng dừa. Ảnh: Huỳnh Lâm

Từ Tiền Giang đổ về, xe vừa leo lên dốc cầu Rạch Miễu - cửa ngõ đầu tiên của tỉnh Bến Tre - du khách sẽ hết sức ngỡ ngàng và chợt hiểu tại sao người ta gọi Bến Tre là xứ Dừa.

Chỉ cách nhau một dòng sông nhưng hai bên bờ Tiền Giang và Bến Tre như hai vùng trời khác biệt. Nếu bên này bờ sông Tiền là khu công nghiệp, là nhà cửa hiện đại chen chúc lô nhô của TP. Mỹ Tho thì ngược lại, bên kia bờ Bến Tre là một vùng xanh ngát bóng dừa. Dừa, dừa… ngút mắt! Có một loại đặc sản đủ làm biểu tượng cho xứ sở mà khi nói lên ai cũng biết đến. Đó cũng là điều mà bất cứ người dân Bến Tre nào cũng cảm thấy rất đỗi tự hào. Có lẽ vì thế mà bao đời nay người dân cù lao đã quyết sống chết với cây dừa.

Chưa có một công trình nghiên cứu một cách bài bản để khẳng định dừa ở Bến Tre có từ lúc nào và từ đâu đến, chỉ biết nó đã nuôi sống, che chở nhân dân Bến Tre từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cây dừa có “1.001” công dụng. Trái không những chỉ cho nước để giải khát mà còn cho ra đời nhiều sản phẩm công nghiệp, trước nhất là dầu dừa. Từ dầu dừa, người ta chế biến nào là bánh kẹo, xà bông, dược phẩm, mỹ phẩm. Ép lấy dầu xong, xác cơm dừa còn được chế biến làm thức ăn gia súc, làm phân bón cây trồng. Ngày xưa, tóc đàn bà, con gái Bến Tre óng mượt được cánh đàn ông trầm trồ cũng nhờ dầu dừa.

Nước cốt dừa phải nói là thứ nước chấm, thứ “gia vị” độc đáo. Nhiều món ăn, nhiều loại bánh, kẹo mà không có nước cốt dừa, xem như… vứt! Kẹo dừa, mứt dừa, thạch dừa, mật ong dừa, nước màu dừa Bến Tre bây giờ đã là thương hiệu vang xa nhiều nước. Thời thượng nhất bây giờ ở các nhà hàng là món gỏi củ hũ dừa và món đuông dừa. Người không biết, ăn hai món này khen ngon nhưng đâu ngờ đã tiếp tay… tiêu diệt vườn dừa Bến Tre! Ăn củ hũ dừa là ăn cả mầm sống của cây dừa. Cây dừa bị đốn lấy củ hũ thì toi mạng. Rất may, bây giờ có người đã kịp thời chuyên trồng dừa để lấy củ hũ. Đuông dừa còn hiếm hơn. Cây dừa nào bị đuông ăn mới có đuông và khi phát hiện được dừa bị đuông ăn thì gần như hết phương cứu chữa. Hiếm và đắt như thế nên người ta đã lén nuôi đuông dừa, một việc làm của những người chỉ thấy cái lợi nhỏ bé trước mắt mà không thấy tai hại to lớn về sau, bởi những con kiến dương dừa sẽ sinh sôi nẩy nở, di chuyển khắp nơi, sự tàn phá rất lớn.

Về Bến Tre, du khách sẽ được nghe chuyện thời chống đế quốc Mỹ người dân đã từng lấy thân dừa làm hầm trú bom trú pháo che chắn dân lành. Được nghe nhân dân Giồng Trôm có sáng kiến kết dừa làm bè, phá sập cầu Bình Chánh, cô lập hai huyện Giồng Trôm và Ba Tri với cơ quan đầu não của chúng ở tỉnh lỵ Trúc Giang. Họ dùng hàng trăm cây dừa kết dính vào nhau tạo thành một chiếc bè khổng lồ rồi thả trôi theo dòng sông Bình Chánh. Bè chạm vào trụ cầu và dựng ngược lên như một cái đập ngăn nước, cuốn phăng cả cây cầu làm bọn lính bó tay.

Trong kháng chiến, bộ đội đi dưới tàn dừa mà không lo máy bay đối phương phát hiện. Dừa che kín tất cả. Có người còn leo lên ngọn dừa, bó đọt dừa để ẩn trốn mỗi khi bị địch ruồng bố. Cả một rừng dừa mênh mông, địch đâu biết cây nào có cán bộ ẩn trốn mà sục sạo! Chính vì thế, khoảng năm 1965, địch đã rải dioxin khai hoang các vùng giải phóng. Hầu hết cây cối đều bị hủy diệt, dừa Bến Tre chỉ còn là những thân cây cụt ngọn. Không những cây dừa bị chết đứng hoặc dị dạng mà nhiều người, nhiều thế hệ cũng bị nhiễm dioxin dở sống dở chết cho đến bây giờ! Tuy nhiên chỉ năm ba năm sau, dừa Bến Tre lại xanh màu, mới thấy sức sống của dừa và của nhân dân Bến Tre mãnh liệt đến chừng nào.

Hồi trước, hầu hết nhà cửa ở Bến Tre đều làm bằng cây dừa và lợp lá, cặp vách bằng lá dừa nước. Tất cả cột, xiên, kèo, khuông vách… đều bằng gỗ dừa. Ở một căn nhà dừa như thế mát mẻ vô cùng. Nắng không nóng vào nhà, còn gió thì tràn ngập bốn bề. Nhiều vật gia dụng cũng được làm bằng gỗ dừa: giường, đũa, vá xúc cơm, chổi cọng dừa… Và từ đấy, hàng mỹ nghệ bằng gỗ dừa, miểng gáo dừa, cọng lá dừa, nhen dừa phát triển mạnh mẽ: bình hoa, giỏ xách, đồ trang sức phong phú đủ loại, đủ kiểu. Mới đây, bộ nhạc cụ bằng gỗ dừa của nghệ nhân Võ Văn Bá và nhạc sĩ Lê Dân đã được ghi vào kỷ lục Việt Nam.

 Cây cầu dừa, cột sào đáy bằng dừa cũng là hình ảnh đặc trưng của vùng sông nước Bến Tre một thời. Cầu dừa vững chắc nhưng lại rất trơn, nhất là vào mùa mưa hay mùa nước nổi. Khó đi nhất là những cây cầu bắc qua các mương rộng và chỉ bắc bằng một cây dừa. Nhiều cô cậu đã bén duyên vợ chồng hoặc để lại một kỷ niệm đẹp cũng từ chuyện “nắm tay dắt nhau qua chiếc cầu dừa” rồi xôn xao rung động đến con tim. Tàu dừa, lá dừa là chất đốt phổ biến nhất ở vùng nông thôn. Cũng từ bếp củi dừa ui ui khói của những bà mẹ quê mà những người con Bến Tre đi đâu cũng dễ nhớ nhà. Ai có trôi dạt làm ăn xa xứ, chiều chiều lặng nhìn về quê hương, chỉ cần thấy một làn khói mỏng bốc lên từ nhà ai đó, mắt đã cay cay. Nhớ. Nhớ vô vàn!

Miểng gáo dừa bây giờ là một loại “vàng đen”, không ai dám đem chụm nữa. Nó được làm đồ mỹ nghệ, làm than hoạt tính, rất nhiều công dụng. Chỉ xơ dừa đã xuất khẩu lâu rồi. Ngay cả mụn xơ dừa mấy năm trước là chất thải đã làm ô nhiễm cả dòng sông Thom (Mỏ Cày Nam) mà bây giờ cũng được làm “đất sạch” và đem xuất khẩu; đơn giản nhất là làm phân bón cây trồng.

Đến Bến Tre, du khách thỏa thuê ngắm vườn dừa và thoải mái uống nước dừa. Dừa mà du khách thấy rợp bóng khắp Bến Tre hầu hết là dừa ta, loại “dừa công nghiệp”, nước uống chưa ngon đâu. Đến Bến Tre mà không thưởng thức nước dừa xiêm, nước dừa dứa hoặc ăn thử trái dừa sáp sền sệt như… sáp là thiếu sót lớn vì chưa thưởng thức đặc sản xứ Dừa. Thích hợp với vùng nước ngọt nhưng gần đây, cây dừa đã lấn biển. Những huyện vùng nước mặn như Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú đều có chương trình ngăn mặn để trồng dừa. Những thớt dừa xanh trĩu quả đã bắt đầu xuất hiện.

Dừa đã làm người Bến Tre xa xứ da diết nhớ quê hương, nhớ những đặc sản được chế biến từ trái dừa, nhớ tiếng lá dừa reo xào xạc trong gió, nhớ những con đường quê chen dưới rặng dừa ban trưa rợp mát và đêm về ngập ánh trăng thanh. Người Bến Tre đa phần chất phác, nhân hậu, thủy chung và mến khách. Phải chăng một phần họ đã thấm nhuần đạo lý của cụ Đồ Chiểu, của Lục Vân Tiên nghĩa khí nhân hậu, của Kiều Nguyệt Nga hiền thục, thủy chung và một phần cũng bởi tâm hồn họ được bồi dưỡng, vun đắp từ sự bao la, thanh thản của những rặng dừa xanh!

Nguyễn An Cư

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN