Tác giả Đông Quỳnh đoạt giải Nhất

30/07/2014 - 07:47

Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cuộc thi viết văn bia Nữ tướng Nguyễn Thị Định được phát động từ ngày 15-8-2012 đến 17 giờ ngày 31-12-2012, Ban tổ chức đã nhận được 421 bài văn bia dự thi của trên 400 tác giả ở 22 tỉnh, thành trong cả nước. 

Sau khi loại bỏ các bài vi phạm thể lệ, Ban tổ chức đã đánh mã số ký hiệu các bài văn bia dự thi và gửi cho Hội đồng giám khảo chấm.

Kết quả: giải Nhất thuộc về tác giả Đông Quỳnh (Phường 4, TP. Bến Tre); giải Nhì: tác giả Nguyễn Văn Thiện (Ban Quản lý Di tích lịch sử - văn hóa tỉnh Long An); giải Khuyến khích: tác giả Cao Thanh Bình (Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Sóc Trăng), tác giả Lê Ái Siêm (Bảo tàng tỉnh Tiền Giang) và tác giả Thái Quốc Tế (cựu giáo viên Quốc văn, Hán văn, ở Phường 2, TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang).

Dự kiến, Ban tổ chức sẽ trao giải vào dịp Lễ giỗ Nữ tướng Nguyễn Thị Định - ngày 23-8-2014, tại Đền thờ Nữ tướng Nguyễn Thị Định (xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm); đồng thời, dán decal hoặc in toàn văn bia của tác giả đoạt giải Nhất trên phần bia tại Khu lưu niệm Đền thờ Nữ tướng Nguyễn Thị Định để xin ý kiến đóng góp của công chúng (từ ngày 23-8-2014 đến 23-2-2015). Sau đó, Ban tổ chức, Ban giám khảo sẽ tổ chức cuộc họp để phân tích các ý kiến đóng góp cho bài văn bia và thống nhất việc khắc văn bia đá đặt tại Đền thờ Nữ tướng Nguyễn Thị Định.

LTS: Báo Đồng Khởi xin trân trọng giới thiệu bài văn bia đoạt giải Nhất của tác giả Đông Quỳnh.

Nhớ xưa:

Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đuổi Hán đoạt thành;

Triệu Thị Trinh cưỡi cơn gió mạnh, bình Ngô dẹp giặc.

            Gương sáng anh thư sử sách lưu truyền;

            Thế hệ cháu con muôn đời ghi tạc!

 

Nêu cao truyền thống:

            Nối gót tiền nhân, cả dân tộc giữ gìn nền độc lập;

            Phát huy tài đức, giới nữ nhi không thẹn với non sông.

Xứ Bến Tre, cây lành trổ trái ngọt;

Làng Lương Hòa, địa linh sinh người tài.

            Mười ba tuổi nuôi ý chí đấu tranh, theo cách mạng không nề gian khó;

            Hai mươi tuổi bị tù đày tra tấn, vẫn đinh ninh một dạ trung kiên.

Nén nỗi đau, ngày nhớ chồng hy sinh vì nước;

Gạt nước mắt, đêm khóc con vắn số bạc phần.

 

Mạnh mẽ thay!

Vượt sóng Biển Đông mở đường ra miền Bắc, chuyển vũ khí về Nam góp sức diệt thù;

Thắp đuốc lá dừa bừng sáng đêm Đồng Khởi, tạo nên thế tiến công cách mạng chuyển mình.

Người nữ bí thư lớn lên trong lòng dân, bám cơ sở gầy dựng phong trào, hiểm nguy nào ngại;

Vị tướng quân gái xuất thân nơi đồng ruộng, học binh thư trau dồi kiến thức, chí quyết không sờn.

Lửa cách mạng trui rèn khí phách.

Đất trung dũng hun đúc lòng son.

 

Vậy mà,

Phó Tư lệnh quân giải phóng miền Nam, giản dị áo bà ba vắt chéo khăn rằn;

Tướng bình dân của chiến tranh du kích, mộc mạc chân dép lốp băng ngàn vượt thác. 

Dưới chiến hào, kề vai đồng đội không sợ hy sinh, xông pha lửa đạn, mưa bom, giương cờ độc lập;

Ở chiến khu, đong đưa chiếc võng vá áo chiến sĩ, nhẹ nhàng đường kim mũi chỉ, gợi cảnh thanh bình.

 

Đất nước thống nhất, Đảng giao trọng trách, nặng gánh hai vai;

Quê hương đổi mới, Dân gởi niềm tin, ghi lòng tạc dạ.

 Ra Bắc trở trăn kế sách, lo toan cho đất nước thoát nghèo;

 Vào Nam không ngại gian nan, đỡ nâng những mảnh đời bất hạnh.

Đấu tranh vì hòa bình dân chủ, cùng năm châu phụ nữ tiến lên;

Vun bồi tình hữu nghị kết đoàn, khắp bốn phương nối vòng tay lớn.

 

Trả nợ nước, hết lòng hết sức đến lúc xuôi tay;

Đền ơn dân, rút ruột tơ tằm tới ngày nhắm mắt!

Năm mươi sáu năm làm cách mạng, xứng danh “Bất khuất, Anh hùng”;

Bảy mươi hai tuổi sống trên đời, vẹn toàn “Đảm đang, Trung hậu”!

 

Nghĩ rằng:

            Đâu cần đổi phận làm trai sự nghiệp anh hùng vẫn rạng!

            Kính người tài đức nhân dân lập đền miếu tôn thờ.

            Tỏa khói hương nghi ngút nghìn thu;

Gương nữ kiệt lưu danh thiên cổ.

Sống làm tướng

Chết thành thần

Dân gian lưu truyền

Ngàn năm bia tạc!

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN