Thắng lợi của trí tuệ Việt Nam

29/04/2009 - 15:36

Thắng lợi hoàn toàn và trọn vẹn của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân 1975 đã đi vào lịch sử dân tộc ta như một mốc son chói lọi. Đó là thắng lợi lịch sử bắt nguồn từ đường lối cách mạng, đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh thần đoàn kết, chiến đấu anh dũng, bất khuất của toàn dân, toàn quân, gắn liền với sự lãnh đạo tài tình của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành TW Đảng. Đó là thắng lợi của trí tuệ Việt Nam.

Chúng ta càng thấy rõ tầm vóc và sức mạnh trí tuệ Việt Nam khi biết Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược là đế quốc Mỹ có tiềm lực kinh tế to lớn và bộ máy quân sự đồ sộ, vừa tàn bạo, xảo quyệt về thủ đoạn, biện pháp. Lại nằm trong khung cảnh thế giới lúc bấy giờ có một số người, kể cả những người giúp đỡ và ủng hộ cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ta lúc đầu cũng chưa thật tin nhân dân ta sẽ thắng được Mỹ. Thậm chí, có những người còn lo Việt Nam bị sức mạnh của Mỹ đè bẹp. Song Đảng ta không hề lo sợ trước sức mạnh và sự đe doạ của tên Đế quốc đầu sỏ mà luôn tin vào sức mạnh vô địch của nhân dân. Kết tinh của trí tuệ Việt Nam và tiêu biểu cho tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường, quyết chiến, quyết thắng đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc của cả dân tộc là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Từ tháng 8/1945 Người đã từng nói: “Dù hy sinh tới đâu, dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải quyết giành cho được độc lập”. Khi đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân vào xâm lược miền Nam và dùng không quân đánh phá miền Bắc, Hồ Chủ tịch khẳng định: “chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm hoặc lâu hơn nữa …”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Trước khi qua đời, di chúc của Người khẳng định: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài mấy năm nữa. Đồng bào ta có thể hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn. Quyết tâm ấy không chỉ thể hiện tiêu biểu nhất ở Bác Hồ vĩ đại mà còn thể hiện sáng ngời ở các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành TW Đảng.

Tại Hội nghị TW lần thứ 21 khai mạc vào cuối tháng 6/1973, trong bối cảnh tình hình quốc tế phức tạp lúc bấy giờ, trong khi chính quyền Nichxơn và ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu có nhiều âm mưu chống phá hiệp định Pari, điên cuồng đánh phá vùng giải phóngnhưng các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành TW vẫn bình tĩnh đánh giá tương quan lực lượng, khẳng định những điềm yếu cơ bản của địch để khẳng định quyết tâm của mình. Đặc biệt, với cương vị là Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành TW Đảng, đồng chí Lê Duẩn đã nêu rõ: Sau hiệp định Pari, tuy Mỹ vẫn còn dính líu, địch còn có những chỗ mạnh, nhưng những chỗ mạnh đó nằm trong thế thất bại, thế đi xuống. Trước âm mưu của Mỹ - Ngụy công khai, trắng trợn phá hoại hiệp định, tiếp tục chiến tranh thì cách mạng miền Nam nhất định phải tiến lên bằng con đường bạo lực. Chiến lược của ta là chiến lược tiến công. Vấn đề quân sự phải đặt lên hàng đầu. Đấu tranh chính trị lúc này phải kết hợp với đấu tranh quân sự, binh vận và pháp lý để giành dân, giành quyền làm chủ. Chính với quan điểm chiến lược sắc sảo của đồng chí Lê Duẩn, hội nghị đã thảo luận kỹ và thống nhất ra Nghị quyết số 21 ngày 4/10/1973 khẳng định: “Con đường cách mạng của miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công”

Cũng như Nghị quyết 15 của TW Đảng năm 1959 mở đường cho cách mạng miền Nam tiến tới đồng khởi năm 1960, nghị quyết TW 21 (tháng 10/1973) như truyền thêm sức mạnh mới, quyết tâm mới cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân cả nước, nhất là lực lượng đang trực tiếp chiến đấu ở miền Nam. Theo dõi rất chặt chẽ diễn biến trên chiến trường, trên bàn đàm phán và mọi động thái của kẻ thù, để động viên cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ở các vùng mà chiến sự giữa ta và địch xẩy ra ác liệt nhất, ngày 5/11/1973 Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn đã gửi thư cho TW Cục miền Nam Khu ủy Khu 5, Khu ủy Trị Thiên, Đảng ủy Tây Nguyên. Bức thư nêu rõ hai khả năng phát triển theo khả năng nào đều tùy thuộc vào thực lực và sự đối phó của ta và điều quyết định trước hết là ta phải nhận rõ cách mạng miền Nam chỉ có thể giành được thắng lợi bằng con đường cách mạng không ngừng, bằng bạo lực, dựa vào sức mạnh chính trị và sức mạnh vũ trang của nhân dân, tận dụng và phát huy những nhân tố mới, thuận lợi mới do HIệp định Pari đưa lại. Đó là tinh thần cơ bản cùa Nghị quyết 21.

Tinh thần của Nghị quyết 21 được Quân ủy TW triển khai xuống tận các đơn vị ở khắp các mặt trận và quyết tâm cùa TW Đảng đã biến thành những chiến thắng cụ thể trên tất cả các chiến trường. Chưa đầy một năm sau Nghị quyết 21 tình hình ở chiến trường chuyển biến rất nhanh: Sức đối phó của địch ngày một giảm trước các cuộc tiến công, phản công của ta, nhất là ở Tây Nguyên, Khu 5 và miền Đông Nam bộ. Tinh thần quân ngụy rệu rã, số quân đào ngũ tăng gấp 3 lần năm 1973. Phong trào chống Mỹ - Thiệu ở các đô thị lên mạnh, vùng giải phóng được củng cố và mở rộng.

Rõ ràng địch đang xuống dốc về mọi mặt quân sự, chính trị, kinh tế do ta tiến công và do khó khăn trong chính bản thân nó và thân chủ của nó. Nắm được điểm yếu của địch, thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn nhắc lại tại Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng (có cả các đồng chí lãnh đạo ở Nam Bộ và Khu 5 ra dự) cách đánh, chiến lược của ta là: Tiến công, nổi dậy, nổi dậy, tiến công, ba mũi giáp công, ba vùng chiến lược, tiêu diệt, làm chủ, làm chủ, tiêu diệt, tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Sáng ngày 8/1/1975, Hội nghị Bộ Chính trị hoàn toàn nhất trí với kết luận của đồng chí Bí thư Thứ nhất. Bộ chính trị ra nghị quyết lịch sử: ”Chúng ta đang đứng trước thời cơ chiến lược lớn. Chưa bao giờ ta có điều kiện đầy đủ về quân sự và chính trị như hiện nay, có thời cơ chiến lược to lớn như hiện nay đề hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam để tiến tới “hòa bình, thống nhất Tổ quốc”. Nghị quyết Bộ Chính trị hạ quyết tâm: “…Động viên, nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ở cả hai miền phối hợp với nhịp tiến của chiến trường hai nước bạn Lào và Campuchia, trong thời gian năm 1975 – 1976 đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, kết hợp đấu tranh ngoại giao làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam theo hướng có lợi cho ta…”. Ngoài kế hoạch chiến lược 1975 – 1976 Bộ Chính trị còn dự kiến: “Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975. Quyết tâm chiến lược của Đảng đã dựa trên thành quả tổng hợp của cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo quyết tâm chiến lược này là sản phẩm trí tuệ của Bộ Chính trị, Quân ủy TW, là thành quả của sự chuẩn bị chiến lược chủ động, sáng tạo, dũng cảm, công phu, kiên trì, bền bỉ cả về chính trị, quân sự, ngoại giao…

Văn hóa Việt Nam, trí tuệ Việt Nam đã thắng, tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa Hồ Chí Minh đường lối cách mạng của Đảng đã thắng. Ngày 30/4/1975 chiến dịch mang tên Bác - chiến dịch Hồ Chí Minh đã hoàn toàn thắng lợi. Chúng ta đã thực hiện trọn vẹn tư tưởng quân sự của Bác Hồ “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, “Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn”

Ngày nay, trí tuệ Việt Nam, văn hóa Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện sáng tạo và tập trung trong Cương lĩnh và Đường lối của Đảng: “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh CNH-HĐH, xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”. Tư tưởng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đang được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong cả nước học tập và làm theo. Theo gương Người, trí tuệ Việt Nam đang tiếp tục được nhân lên, phát huy và giành những chiến thắng trên mặt trận xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp như mong ước của Người lúc sinh thời.

Nguồn ĐCSVN

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN