Thích hợp, hiệu quả trong phát triển thủy sản

19/06/2009 - 09:28
Thả cá về biển để tái tạo nguồn lợi thủy sản.

Sở NN&PTNT vừa tổ chức hội thảo đánh giá xây dựng mô hình đồng quản lý trong phát triển thủy sản ở Bến Tre. Tham dự buổi hội thảo có Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Hiếu, đại diện các viện, trường, các chuyên gia của dự án FSPS và đông đảo ngư dân, chính quyền địa phương. Hội thảo đã thông qua bước đầu hai mô hình về đồng quản lý trong ngành thủy sản: Chuyển nghề ở Thạnh Phong (Thạnh Phú); qui hoạch và xây dựng khu bảo tồn đa dạng sinh học vùng cửa sông Hàm Luông ở (Ba Tri, Thạnh Phú).

Mô hình ở Thạnh Phong chủ yếu là điều tra, tìm hiểu về đời sống ngư dân vùng ven biển với nghề đánh bắt thủy sản, nhất là tạo điều kiện, hỗ trợ cho số hộ chuyên đánh bắt các loại thủy sản bằng ngư cụ bị cấm (lưới mùng) chuyển nghề. Theo đánh giá, xây dựng mô hình ở Thạnh Phong là đúng và phù hợp. Bởi Thạnh Phong là một xã nghèo, nghề cá đóng góp gần 60% thu nhập của ngư dân. Các nghề khai thác thủy sản ven bờ, nuôi sò huyết, nghêu, cua là nguồn thu nhập chính của nhiều ngư dân. Nghề này gắn liền với nguồn tài nguyên sinh học có khả năng tái tạo nhưng cũng rất dễ bị tổn thương. Nguồn lợi bị cạn kiệt, môi trường bị suy thoái nếu người dân tự do khai thác bừa bãi như hiện nay. Qua triển khai, mô hình nhận được sự đồng tình ủng hộ của ngư dân, chính quyền địa phương. Các cơ quan tư vấn cũng đã hoàn thành nhiệm vụ điều tra khảo sát, hỗ trợ kỹ thuật, xây dựng mô hình. Đây là một công trình khoa học, có tính thực tiễn cao.

Còn mô hình qui hoạch và xây dựng đồng quản lý khu bảo tồn đa dạng sinh học vùng cửa sông Hàm Luông bước đầu đem lại kết quả khả quan. Chương trình đã điều tra chi tiết các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội chung quanh sông Hàm Luông. Sông dài khoảng 70km, lòng sông sâu từ 12-15m, rộng trung bình từ 1,2-1,5km, đoạn gần cửa biển rộng hơn 3km. Nghề thủy sản là nghề chính, chiếm 45%. Đã thu thập và xác định được 62 loài cá thuộc 38 họ, 13 bộ. Trong đó, bộ cá vược có số lượng loài nhiều nhất với 29 loài, chiếm 46,77% tổng số loài. Bộ cá nheo có 9 loài, chiếm 14,52%. Bộ cá trích có 7 loài, chiếm 11,29%. 6 loài có mặt trong danh sách đỏ Việt Nam. Có 37 loài cá được xem là những đối tượng có giá trị kinh tế cao thuộc 23 họ, 7 bộ. Cũng theo số liệu điều tra, có 85% số dân thuộc 8 xã lân cận quanh cửa sông Hàm Luông sống bằng nghề thủy sản. Phần lớn người dân đều cho rằng nếu không sống bằng nghề thủy sản thì không biết làm gì, vì nghề này đã gắn bó với họ qua nhiều thế hệ. Qua phân tích cho thấy sản lượng trung bình của nhóm hộ khai thác chuyên nghiệp ở vùng cửa sông, ven bờ là 15.565kg/hộ/năm, trong đó, hộ cao nhất là 55.000kg/hộ/năm, thấp nhất là 3.650kg/hộ/năm. Có khoảng 10 khẩu đáy ở Rạch Cừ, 100 đăng mé và 10 chiếc ghe đi đặt lọp, 15 ghe cào từ Rạch Cừ đến cù lao Đất. Ngoài đánh bắt bằng các loại ngư cụ trên còn có hình thức đánh bắt thủ công bằng tay. Nuôi trồng chủ yếu là hình thức quảng canh, quảng canh cải tiến vùng cửa sông, tập trung ở các xã thuộc Thạnh Phú. Sản lượng hàng năm 2.420 tấn. Hình thức nuôi công nghiệp chủ yếu tập trung ở Ba Tri, sản lượng trung bình đạt 5,5 tấn/ha mặt nước. Tổng sản lượng thủy sản toàn vùng này khoảng 5.328 tấn. Ngoài ra, còn có các loài thủy sản vùng nước ven bờ như nghêu, sò huyết, tôm he, tôm rảo, tôm vỗ, ghẹ. Do vậy, việc quản lý khai thác hợp lý, sử dụng và phát triển bền vững nguồn lợi nhằm đảm bảo ổn định sinh kế cho cộng đồng là vấn đề cực kỳ quan trọng cần được sự quan tâm đặc biệt của chính quyền địa phương.

Theo dự án, phạm vi bảo tồn có chiều dài 17km theo đường chim bay từ cù lao Đất ra cửa sông. Vùng cửa sông dài 10km từ Ba Tri đến Thạnh Phú. Vùng đệm khu bảo tồn gồm 8 xã: Thạnh Phong, Thạnh Hải, An Điền, Mỹ An, An Hiệp, An Hòa Tây, An Đức, An Thủy (bao gồm cù lao Đất và vùng biển gần bờ tiếp liền với đường giáp ranh cửa sông Hàm Luông ra 5km).

Theo ông Lê Phong Hải-Giám đốc Sở NN&PTNT, trong nhiều năm qua tỉnh xác định kinh tế thủy sản là mũi nhọn nên tập trung đầu tư nhiều chương trình, dự án quan trọng. Xây dựng qui hoạch ngành, nhiều hình thức kêu gọi, thành lập ban quản lý vùng nuôi. Gần đây cũng đưa ra nhiều giải pháp quản lý cộng đồng đã phát huy hiệu quả, tạo sự đồng thuận cao trong nhân dân, địa phương. Tuy nhiên, sự phối hợp các ngành còn nhiều lúng túng. Nhận thức của một số người dân chưa cao, gây tác động xấu đến môi trường sinh thái, nguồn lợi thủy sản. Một số nơi có mô hình tốt nhưng khó nhân rộng. Do vậy, xây dựng mô hình đồng quản lý là bước đi phù hợp; trong đó, vai trò của chính quyền địa phương là rất quan trọng.

Bài, ảnh: Thu Huyền

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN