Thiên lý đò giang

09/07/2010 - 09:00

Từ nửa cuối thập niên sáu mươi, tuyến đường sông Ba Tri - Thạnh Phú đã có đò khá lớn, bến gần nhà máy xay lúa Đồng Hưng. Còn ở bến đò Thị xã thì ôi thôi, đủ thứ đò về từng địa danh riêng lẻ miệt Thạnh Phú, Mỏ Cày, Chợ Lách, cho thấy cù lao Minh có địa hình mênh mông, sông ngòi chằng chịt và phương tiện giao thông thời bấy giờ chủ yếu bằng đường thủy.

Một thời khó quên

Khoảng năm một chín bốn mấy, ông Tư Quế, thầy thuốc bắc danh tiếng xứ Ba Tri - gả cháu ngoại về Giồng Luông, Thạnh Phú. Bữa đưa dâu cả nhà khóc như mưa bấc, y như đem Chiêu Quân đi cống Hồ vậy! Khi trời còn tối, đoàn người đốt đèn măng-xông lọ mọ đi. Bên cạnh người cầm đèn, lúc nào cũng có đứa nhỏ xách cái thùng thiếc rỗng, loại đựng dầu lửa hiệu con gà hai mươi lít lon ton đi kề. Hễ nghe hơi máy bay của Tây thì lè lẹ đặt đèn xuống, lấy thùng thiếc ụp lại để chúng không thấy ánh đèn. Ghe đón dâu vội vàng rời bến Năm Nữ theo rạch Bà Hiền ra cửa Tiệm Tôm băng sông rộng trước khi trời sáng. Hồi đó, qua sông lúc trời sáng tỏ ớn máy bay lắm, giống như rắn bò qua ruộng trảng sợ gặp đại bàng vậy. Thời đó làm gì có máy nổ. Trong rạch thì bơi dầm, ra sông rộng may gặp gió xuôi thì căng buồm. Ghe tam bản kiểu ghe bầu, mui tròn, không có hầm. Bạn trên ghe thường sáu, bảy người; một coi lái, còn bao nhiêu là bạn chèo. Ghe thì chiếc nào cũng có cột buồm. Buồm là buồm trần, đan bằng lá buông, đơn giản giống như tấm bạt vậy thôi.

Chèo chống ai nấy mỏi nhừ mới tới vàm Phú Khánh, vô chợ Đại Điền vừa lúc hừng đông. Lễ lạc, ăn uống xong lại nán chờ con nước ròng khuất mình mới dám làm chuyến hành trình trở về. Khi đến nhà thì gà rân tiếng gáy. Vầng trăng mười bảy đã chếch hàng mù u xóm bến. Trong lúc ghe chạy thì có một người túc trực tát nước suốt và thay phiên nhau tát. Chẳng biết là nước sông rịn vô hay nước mắt của má cô dâu mà sao tát hoài không hết? Có thể người kể cường điệu cho vui, nhưng hồi ấy gả con như vậy là muôn trùng cách trở, khổ ải, gian nan là vậy. Thầy Tư khào khào giải thích, tại cháu mình thương đâu gả đó, chứ phen này coi như là “nhứt hành bất khứ” (một đi không trở lại)…

Từ nửa cuối thập niên sáu mươi, tuyến đường sông Ba Tri - Thạnh Phú đã có đò khá lớn, bến gần nhà máy xay lúa Đồng Hưng. Còn ở bến đò Thị xã thì ôi thôi, đủ thứ đò về từng địa danh riêng lẻ miệt Thạnh Phú, Mỏ Cày, Chợ Lách, cho thấy cù lao Minh có địa hình mênh mông, sông ngòi chằng chịt và phương tiện giao thông thời bấy giờ chủ yếu bằng đường thủy. Máy móc thủy động cơ chạy dầu diesel xuất hiện rồi. Trước tiên là máy của Italia nhập qua, hiệu Arona, có hai lốc, chánh máy thủy động cơ, hộp số com-plê ngon lành. Tuy hơi yếu nhưng cũng còn đỡ hơn chèo. Khoảng năm 1961, lại có máy nhập từ Ấn Độ, hiệu Kyloska, người ta hay gọi tắt là: máy Ấn Độ 5. Đây chỉ đơn thuần là máy nổ phục vụ cho nông nghiệp như: bơm nước, phát điện, xay lúa… máy đứng, chỉnh ga không có hộp số. Người Bến Tre đã độ chế lại, thêm láp, chân vịt, gắn xuống ghe chạy phà phà. Khoảng năm 70 thì có máy Reo của hãng General Motor, Mỹ; Yamaha 2 TGK, Nhật, mấy máy này công suất lớn, pít-tông 95, hai lốc.

Lại nói về đò, người đi cũng liệu mà đi, vì mỗi ngày chỉ duy nhất một chuyến, trễ là coi như “huốt”. Đò Ba Tri, Thạnh Phú chủ yếu chở hàng bông, vịt con, 9 giờ rời bến, xà quần tấp vô, dạt ra rước khách dọc đường; ngang sông vào vàm Biện Lễ, ghé Bến Vinh xuống hàng, chỗ này có bán bánh dừa nhưn đậu xanh ngon nổi tiếng. Tới chợ Thanh Phú 11 giờ, người mua kẻ bán tranh thủ mau mau, 2 giờ lại về Ba Tri. Có bận, đò vừa tách bến chưa bao xa, khách phải lấy hơi…Minh Cảnh kêu… thấy thương. Bởi vậy mới có thành ngữ “Kêu như kêu đò” để chỉ mỗi lần muốn đánh thức thằng con ngủ nướng!. Không ai nghi ngờ về lợi ích của những con đò như vậy. Ngoài việc giải quyết nhu cầu đi lại, nó còn làm cho sự giao thương ở nơi đó đi và đến thêm chặt chẽ, kinh tế dọc “con đường phù sa” ngày càng phát triển, bộ mặt nông thôn thêm trù phú. Nó trực tiếp mang sản phẩm từ nơi làm ra thẳng đến nơi tiêu thụ bất kể khuya sớm, xa xôi thể nào. Từ đó, hình thành một tầng nấc trung gian phân phối, được hưởng lợi nhiều nhất, là tầng nấc thương lái, đóng vai trò quan trọng trong dây chuyền sản xuất - tiêu dùng - đã có một thời kỳ chúng ta không công nhận.

Và cũng không ai nghi ngờ về tính chậm chạp và không an toàn của những con đò ấy. Thời buổi in-tẹc-nét nhấp chuột cái là biết chuyện trời tây. Sài Gòn ra Hà Nội mất có 1 giờ 45 phút, mà cà rịch cà tang trên đò Ba Tri cả nửa ngày mới tới Thạnh Phú thì còn hợp đồng làm ăn, giao dịch cái gì nữa. Về tính an toàn, người Ba Tri không thể nào quên sự cố đau buồn khoảng cận Tết năm 1968. Đò qua Thạnh Phú chở đầy người, trên cái mui cũ nát chở gần 20 tấn củ hành, sau lái lại thêm bầy heo tạ chừng mấy mươi con. Khẳm khủng khiếp! Rời bến chẳng bao xa, tới khúc quanh, đò hơi nghiêng, nếu như mọi người ngồi đâu yên đó đò sẽ thăng bằng trở lại, như trứng vịt lộn trong thau nước chứ gì! Đàng này, bầy heo hoảng sợ chạy dồn qua một mé, nghiêng càng thêm nghiêng, cái mui nặng oằn, sai trọng lực, thế là con đò lật úp trong nháy mắt. Nay chỗ khúc quanh ấy tồn tại cái miễu cô hồn, buồn trông ớn lạnh.

Vì thế có thể gọi đò là một phương tiện bất tiện. Thôi thì chúng ta trả nó về đúng vị trí, công năng của nó là vận chuyển hàng hóa do tính kinh tế cao, giá thành hạ.

Lần hồi, đò ngày càng to lớn, mạnh mẽ hơn. Nay đã có hai con đò đối tác xuất bến cùng giờ ở hai bờ Thạnh Phú, Ba Tri, ngày hai lượt khách thoải mái, đi về tùy nghi lựa chọn. Nay lại thêm sự góp mặt của phà Mỹ An. Bến ở Ba Tri nằm ở Trại Già, xã An Đức, cách Thị trấn 6 km. Đây là con phà vững chãi, tải trọng độ 50 tấn, có thể chở được chiếc xe du lịch. Nó băng xéo lên thượng nguồn về phía xã Mỹ An, Thạnh Phú, chứ không vô vàm Biện Lễ, chợ Bến Vinh, nên các con đò tuy hơi vắng khách nhưng vẫn còn sinh sống được. Hôm tôi đi, thấy có xuống một chiếc máy cày, kéo rờ-moóc chở gốc bồ đề to tướng mới bứng, chắc chủ đem về làm kiểng. Phà chở khỏe re! Trên phà, tôi bắt chuyện với anh Út T, nhà ở Ba Tri, anh chở vợ bằng xe hai bánh qua Thạnh Phú, tạt qua Mỏ Cày, Hương Mỹ sang phà Vàm Đồng qua Trà Vinh rồi lên Vĩnh Long để coi mua chiếc tàu đánh cá. Anh bảo, nghe nói lòng vòng vậy chứ so với hồi trước là sang phà Rạch Miễu, lên Trung Lương rồi quành xuống Vĩnh Long, đi như hiện nay thì rút ngắn được hàng trăm cây số. Ừ! Đường xa đã hóa nên gần. Chợt nghĩ, thầy Tư Quế mà còn sống tới nay gả cháu ngoại chắc là sung sướng, khỏe re. Đâu có phải tát cả xuồng đầy... nước mắt.

Chuyện ở cù lao Minh

Cách nay đúng con giáp, tôi có nhận thực hiện bộ ảnh phim đèn chiếu slide cho cuộc hội thảo quốc tế kêu gọi đầu tư (Hội thảo Phát triển- Xóa đói giảm nghèo tại Bến Tre) nằm trong Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc UNDP, mã số VIE 96-005. Ông Tư Thiên, Giám đốc Sở Kế hoạch & Đầu tư khi ấy, đưa cho tôi xấp danh sách cầu khỉ của xã nghèo Mỹ Hưng, Thạnh Phú bảo tôi lên đường. Tôi đếm sơ sơ có đến…36 điểm. Thật là một con số ấn tượng! Nhìn ảnh những em bé đeo cặp lần tay vịn đi qua cây cầu tre vắt vẻo, ai cũng muốn thót tim và nao lòng.

Mỹ Hưng đã tách thành hai xã: Mỹ An và Mỹ Hưng. Ngày nay, cảnh vật ở đây đã khác, đường sá đi lại, nhà phố chợ xã khang trang lắm. Lên xuống phà tấp nập là bạn hàng đến thu mua cua. Những cần xé to tướng đựng đầy cua, con nào cũng kình càng, vàng ruộm màu phèn mà… muốn nhậu quá! Anh chủ quán nước đầu bến phà cho biết, kinh tế chủ yếu ở đây là trồng lúa, nuôi cá rô phi, năng suất hơi “hẻo” vì là vùng nước lợ. Từ lúc chuyển đổi sang nuôi cua và tôm sú, đời sống người dân ở đây đã thay đổi hẳn. Chỗ này đến chợ Thạnh Phú 7km, đường tráng nhựa. Giật mình nhất khi thấy cầu Mỹ An, cây cầu đúc bằng bê-tông vĩnh cửu dài 198m, rộng 5m, tải trọng 13 tấn, khẩu độ thông thuyền lớn, coi hoành tráng, bề thế hết sức. Là tuyến giao thông huyết mạch nối liền Mỹ An với trung tâm huyện. Xê phía trên có ngôi trường tiểu học xinh xinh. Cũng anh chủ quán nước nói, hồi trước nếu “em” nào sợ té cầu khỉ thì qua đây có đò ngang bằng xuồng ba lá đưa. Hẳn trẻ con hôm nay đến trường sẽ vui tung tăng chân sáo chứ không phải run run tay vịn cầu tre cao ngất nữa. Nhìn cảnh ấy lòng ai chẳng rộn ràng, sung sướng.

Tôi bắt đầu đi và đếm từ điểm xa nhất của Thạnh Phú là Doi Đước, cồn Bửng. Qua Thạnh Hải, Thạnh Phong lên Giao Thạnh, quãng đường chừng 15 km thì đến bến phà Cầu Ván. Đây là vùng cát nổng tháng nắng trồng dưa, mùa mưa tỉa đậu. Chỗ nước lợ thì nuôi tôm, cua, nghêu, sò huyết, toàn là những mặt hàng xuất khẩu chiến lược. Đường khúc này khó đi quá.

Phà Cầu Ván vé xe và người 2.500đ mỗi lượt. Là con phà 2 đầu, có tàu lai dắt chứ không tự hành. Có nhiều xe đông lạnh lên xuống. Uể oải ngồi chờ phà, tôi bắt chuyện với anh Ba C., một nông dân nhiều năm nuôi sò, xài di động đắt tiền, coi mòi giàu có. Anh hào hứng: “Vùng này bây giờ “ngon” lắm! Cồn Bửng đang được thiên nhiên ưu ái bồi thêm, ngày càng rộng. Tôm, cua, nghêu, sò hổm rày trúng khẳm. Hổm rày thấy người ta đo vẽ, nghe nói tỉnh định làm khu di tích Đoàn tàu không số. Còn đường hả, có gì đâu, tại đang làm đó mà. Ít bữa nữa tráng nhựa láng o”. Đôi mắt anh như lóe sáng tự hào: “So mười năm trước ở đây bây giờ khác lắm. Ai xa lâu mới về nhìn không ra”. Qua được phà mất hơn nửa tiếng. Có bến xe bus lên TP Bến Tre. Hèn chi sáng giờ tôi không gặp chiếc xe ngựa nào, hình ảnh cá biệt thân thương đã in sâu vào tâm tưởng tôi từ hồi thơ bé mỗi khi nhớ về đất ấy.

An Nhơn là một xã cường thịnh. Phố chợ thiết kế đẹp, ngăn nắp, hai bên đường có cống thoát nước chỉn chu. Có nhà máy ương nuôi tôm giống. Ngoại ô người ta đang xây dựng giai đoạn cuối cầu C1 dẫn vào cảng cá An Nhơn nằm cặp mé sông. Đọc tấm bảng thiếc thấy ghi là do Sở NN&PTNT tỉnh Bến Tre đầu tư. Khởi công ngày 17-9-2009, hoàn thành ngày 5-5-2010. Bây giờ đã đầu tháng 7, mà vật liệu cát đá vẫn còn ê hề.

Quốc lộ 57 mở rộng mênh mông. Còn nhớ khi xưa vùng trũng này toàn năn lác, nay là những vuông tôm xa quạt chạy rào rào, xen nhiều cửa hàng bán tôm sú, tôm càng giống. Tới thị trấn Thạnh Phú mất chừng 12km. Chợ Thạnh Phú còn có tên là chợ Giồng Miễu, nghe xưa xưa, nhưng là một ngôi chợ cực kỳ sung túc, tuy hơi bề bộn. Ở đây, có món cháo lòng huyết hậu, giá đậu xanh, ăn với bánh hỏi sợi to gần bằng cọng bún ngon đã đời!

Khép lại… đò giang

Thời thơ ấu tôi gắn bó nhiều với đất Thạnh Phú, nên những tên gọi, những địa danh như Hồ Cỏ, Băng Cung, An Qui, Sân Trâu, Khém Thuyền… nghe sao tha thiết quá. Thạnh Phú có con đường sao dầu Phú Khánh đẹp như tranh. Đường liên ấp đều bê-tông hết cả, đâu còn sợ chiều mưa đi chơi trợt té, phải ngồi nhà bó gối nghe nhái bầu ai oán “ngắt ngang”! Đất Thạnh Phú có nền văn hóa rất dày. Người trọng lễ nghĩa. Ngành nghề thủ công đặc biệt khéo léo, như dệt chiếu, đan giỏ xách mây tre, và có cả một làng chuyên làm lu đựng nước được bán khắp Nam kỳ lục tỉnh. Ruộng Thạnh Phú xếp vào thượng đẳng điền. Nội nhìn dinh thự, nhà xưa, nền cao tới ngực, nạm vàng cẩn ốc của huyện Kiểng, phó Hoài ở Đại Điền – bây giờ người ta vẫn còn kiêng húy, hoài nói là huời- cũng đủ biết hồi đó mấy ổng giàu có đến mức nào. Chỗ này có bia kỷ niệm ngày làm lễ xuất quân của Tiểu đoàn 307 lừng danh.

Nhắc tới địa danh Khém Thuyền, tôi chợt nhớ câu chuyện cũng liên quan tới đường sá xe cộ, mắc cười lắm. Khoảng năm 69, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu lần đầu nhập cảng xe hai bánh Honda qua bán cho lính tráng, hương chức hội tề với hình thức hàng quân tiếp vụ miễn thuế. Dân không mua được. Có một du kích vui tính nào đó cặm tấm bảng ghi câu lục bát:

 

Chiều chiều ra bắn Honda

Không là công chức cũng là quân nhân!

Vậy đó mà về sau chúng không dám bén mảng xuống mấy xã cánh dưới, vì thực tế đã có nhiều tên bị trúng đạn khi đang chạy xe nên... rét.

Đến thời bây giờ, tôi lại mong mấy chú công an giao thông siêng bắt chước ông du kích nọ. Cũng chiều chiều ra bắn (tốc độ) Honda. Không là chạy ẩu cũng là nhậu say!  Cho bá tánh nhờ.

Đi dần về phía trên, những vuông tôm và điểm  mua bán tôm giống dần hết. Thay vào là những điểm bán lúa giống, cây trồng. Quang cảnh cũng thoáng đãng, trù phú hơn. Nhiều nhà có hàng rào cây xanh cắt tỉa công phu. Trường học mới khang trang sạch đẹp rất nhiều, đang hè nên cổng khép im lìm. Mạng lưới y tế, trạm xá xã và nước sạch của Thạnh Phú khá hoàn chỉnh, mở rộng.

Rong xe trên quốc lộ, tôi cười thầm chợt nghĩ ra: Nhìn ở khía cạnh chi tiết mang tính hài hước, xứ Thạnh Phú có nhiều cái nhẹ: rượu Thạnh Phú thì nhẹ đô, người Thạnh Phú đi nhẹ bước, con gái Thạnh Phú nói năng nhẹ lời, đến đám ve sầu Thạnh Phú kêu cũng nhẹ tiếng!

 Bởi nhìn ở phiến diện, xứ Thạnh Phú sao cứ vẫn trầm trầm, cổ kính, buồn buồn như muôn thuở. Nhưng, bên dưới lớp trầm buồn cổ kính ấy, là những công trình mà người Thạnh Phú đã và đang làm được một cách đồng loạt, tập trung, như vận động viên nhảy sào, đang rùng người lại để chuẩn bị cho một bước nhảy vọt vượt qua khỏi tầm cao thế kỷ.

* * *

Trong khi đó, Mỏ Cày, đã chia tách thành 2 huyện, lại có tốc độ xây dựng ào ạt, rầm rộ hơn. Trên cái nền đường sá, cầu kỳ khá tốt trước đây, Mỏ Cày vững chãi, tự tin. Từ bến xe Thạnh Phú lên đến bến xe Mỏ Cày Nam là 32km, toàn là đường nhựa. Mấy cây cầu lót ván long đinh chạy rêm đầu nhức óc ngày nào như cầu Ranh Tổng nay cũng được làm bằng cầu đúc bê-tông vĩnh cửu. Mỏ Cày có bệnh viện Cù lao Minh, giải quyết luôn cho 2 huyện lân cận những ca nặng, giảm tải cho tuyến trên. Có đền tưởng niệm Đồng Khởi ở làng Định Thủy, có kẹo dừa, đậu phộng. Chợ Mỏ Cày vô cùng sung túc, bán buôn nhộn nhịp suốt ngày. Hàng tươi sống chủ yếu thịt heo; cá biển, tôm, mực ít thấy. Thế mạnh kinh tế của Mỏ Cày là dừa và mía.

Và, suốt dọc quốc lộ 57 vắt dài cù lao Minh, có một chiếc cầu vừa mới ra đời đóng vai trò then chốt, quan trọng, chi phối giao thông, kinh tế một vùng rộng lớn của nhiều huyện nhất, nó đã phá thế cô lập của dải cù lao này, xóa đi nỗi ám ảnh cách trở đò giang hằng bao thế hệ, đó là cầu Hàm Luông, nó làm cho khoảng cách không gian như gần lại. Bây giờ từ cầu K120 Mỹ Tho về Doi Đước, nơi tận cùng của cù lao Minh độảụ 88km. Đường sá liền lạc, chạy xe chỉ trên dưới 2 giờ trong khi ngày xưa lặn lội cả ngày chưa chắc tới!

Tuy nhiên, có việc hơi bực mình. Đi đường xa nắng nôi khát nước, lại nghe tin Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc có dịch tiêu chảy, tôi đâu  dám uống cà phê, trà đá gì. Tuy thị trấn từ lâu đã có nhà máy nước sạch nhưng người ta vẫn còn thói quen gánh nước sông về dùng. Bèn ghé tiệm kia mua lon nước yến, tranh thủ vừa chạy vừa uống. Khi lon nước hết rồi, tôi muốn kiếm thùng rác công cộng mà bỏ vô. Nhưng hỡi ơi, chẳng thấy cái thùng rác công cộng nơi mô. Nó cũng là một trong những tiêu chí của đô thị văn minh đấy. Khiến phải cầm cái lon không mà chạy, tuốt về đến TP Bến Tre mới có chỗ quăng vô.

Khuya nằm nghĩ ngợi, thấy câu chữ “gấm vóc quê hương liền một dải” rất thực, không sáo rỗng, nhưng ở đâu đó trong tâm hồn tôi, bỗng chợt thèm được nghe tiếng nhạc leng keng, tiếng khua móng xuống nền lộ đá của những cỗ xe ngựa mỗi khi chở hàng lúc hừng đông. Tôi bỗng thèm được thấy cảnh ra chợ sớm miền sông rạch Mỏ Cày. Nó đẹp không thể nào tả nổi, nhất là những phiên chợ cận Tết. Thấp thoáng ẩn hiện sau những rặng dừa nước là hàng trăm chiếc xuồng ba lá, dày đặc ánh đuốc trông như đêm hội hoa đăng. Xuồng chở sản vật mộc mạc cây nhà lá vườn như ít cặp vịt, vài bó mía thanh diệu hay đôi cần xé mận hồng đào. Chồng đưa vợ ra chợ bán để đổi lấy miếng quà, tấm áo cho con. Tôi cũng thèm được ăn món tép đất em xúc dưới mương vườn đem về rang với nước cốt dừa ngọt béo, thanh thao. Ngon sao ngon lạ ngon lùng! Tôi cũng lại thèm nghe mùi bùn ngai ngái quyện với mùi dừa nước dẻo thơm mỗi độ hè ngồi đò về thăm cô bạn gái. Thấy xa xa cái dáng của em đứng bên cây phượng già trên bến đang đỏ rực màu bông.

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN