Tôi yêu Bến Tre

08/07/2012 - 16:45

Tôi biết đến Bến Tre sau sự kiện “Đồng Khởi” làm chấn động cả nước. Trước đó, cán bộ, chiến sĩ miền Nam trên đất Bắc cùng nhân dân miền Bắc vốn rất lo lắng về tình hình đen tối ở miền Nam. Vì vậy, ai cũng rất vui khi nhân dân miền Nam nổi dậy.

Thế rồi tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 3 (1969) ra Nghị quyết ghi rõ: Cuộc “Đồng Khởi” ở Bến Tre cùng với những trận đánh ở miền Nam như: Tua Hai, Gò Quản Cung, Sơn Hà… đã tạo nên một cơn bão táp lớn ở miền Nam đang lần lượt quật ngã chính quyền tay sai Mỹ ở Sài Gòn…

Năm 1964, tôi khoác bộ quần áo Giải phóng quân lên đường về Nam chiến đấu. Cuối đoạn đường vượt Trường Sơn, chúng tôi đã gặp “Bến Tre” trên đường Trường Sơn. Hôm đó, các đoàn viên nữ bỗng xôn xao chạy lên chạy xuống đoàn hành quân.

- Gặp các cô gái giải phóng rồi…

- Có các cô giao liên quê Bến Tre!

Thế là cả đoàn ùa lên vây quanh các cô giao liên giải phóng. Đó là những cô gái còn rất trẻ, mặc bộ bà ba đen, cổ quấn khăn rằn, đầu đội nón tai bèo, khoác một khẩu carbin gọn nhẹ. Lúc hành quân các cô đã đi xen kẽ đội hình để anh em trong đoàn thăm hỏi các cô gái Bến Tre…

Về căn cứ ít lâu, tôi được tham dự Đại hội Liên hiệp Thanh niên Giải phóng. Tại đây, tôi gặp được nhiều nam nữ thanh niên Bến Tre đã hành quân qua sông nước, vượt “đồng chó ngáp” đến Đại hội.

Tháng 3-1965, tôi được điều đến Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua Quân giải phóng lần thứ 1. Người Bến Tre đầu tiên tôi gặp là chị Ba Định. Chị cùng các anh Nguyễn Chí Thanh, Trần Độ, Nguyễn Hữu Thọ… chỉ đạo Đại hội. Hàng ngày, tôi được ngồi gần chị để nghe các điển hình báo cáo. Chị là một người phụ nữ đôn hậu, luôn hỏi thăm sức khỏe, ăn ở của anh em nhà văn, nhà báo. Một hôm, chị hỏi tôi về gia đình ở ngoài Bắc. Chị lấy một tấm hình ghi phía sau tặng má tôi “đã cho con về Nam chiến đấu”. Chị hỏi chuyện riêng, tôi thưa: Người yêu tôi ở miền Bắc đang chờ đợi. Rồi tôi nói vui:

- Không biết cô ấy có sức đợi chờ hay không?

Chị cười:

- Cứ lo chiến đấu và viết. Nếu cô ấy không chờ được thì chị sẽ kiếm cô gái Nam bộ “đền” cho em.

Hai cô gái Bến Tre tôi gặp ở Đại hội là chị Mười Lý (Tạ Thị Kiều) và Út Tuyết cùng dân Mỏ Cày. Nghe chuyện đánh giặc của hai chị mà tưởng như chuyện “đánh trận giả” thời niên thiếu. Tôi kết thân với chị Mười Lý từ đó đến nay đã hơn 46 năm.

Sau Đại hội anh hùng, tôi được về đồng bằng Nam Bộ công tác. Lúc đi xuống thì qua Long An, Kiến Tường, Kiến Phong, Vĩnh Long, Trà Vinh rồi đến Cần Thơ, Sóc Trăng. Lúc trở về, giao liên cho đi đường qua Bến Tre. Thế là tôi có dịp băng qua vùng giải phóng Bến Tre trong nhiều ngày. Dạo đó, Bến Tre có một số xã, ấp giải phóng nên khách đi đường được phép “lang thang” trong dân vài bữa thật thú vị. Tôi nhớ có lúc ở Mỏ Cày đến ăn hủ tiếu ở quán của một chủ người Hoa (hình như ở An Định). Ông ta họ Lâm, cứ khoe mình là bà con với ông Lâm Bưu bên Trung Quốc. Khách nào đến kể chuyện Lâm Bưu thì ông ta cho ăn khá ngon. Sau đó, tôi về Châu Thành, đến Phú Túc chỉ mấy ngày sau khi Mỹ rải chất độc hóa học làm cháy dừa, giết hại gia súc và cả dân thường. Ở đây tôi có gặp vợ chồng anh Quốc Việt, công tác tại Tuyên huấn Châu Thành. Sau này, anh đã hy sinh. Có lần một anh bạn cùng đi dẫn tôi thăm một “ấp chiến lược” vừa phá rã. Đang ở trong nhà dân thì lính Sài Gòn đi tuần qua, phải trốn chạy gần chết.

Lúc tôi ở Bến Tre về gặp anh Trần Độ - Phó Chính ủy Quân giải phóng. Anh hỏi chuyện Bến Tre và kể cho tôi nghe một “giai thoại về vị tướng Đồng Văn Cống”.

- Nghe nói thời chống Pháp, Tây rất sợ bộ đội ông Cống. Mỗi lần đi càn chúng thường hỏi “có Cống không?”. Bà con cứ tưởng chúng hỏi ống cống nên trả lời: “Ở đây nhiều cống lắm” nên Tây rất sợ không dám hung hăng.

Ở Ban Tuyên huấn R, tôi rất thân với các nhà báo Bến Tre là Nguyễn Hồ, Phạm Khắc, Đạt Vân và Bến Hải. Cả bốn anh cùng công tác với tôi từ ngày về miền Nam cho đến ngày nay. Ở Bến Tre, tôi cũng rất thân với các nhà báo Chí Nhân, Tiền Phong…

Sau đợt 1 Mậu Thân 1968, tôi đi Phân khu 2 còn Nguyễn Hồ đi Bến Tre. Do chiến trường ác liệt và đi lại khó khăn, khi anh em chúng tôi trở về căn cứ thì Nguyễn Hồ vẫn bặt tin. Chúng tôi chắc anh đã hy sinh. Tôi lục tất cả bản thảo của Nguyễn Hồ, ngồi biên tập lại để in dần – như một kỷ niệm và “kính viếng”. Ai dè, một hôm giao liên về báo với tôi: Chú Nguyễn Hồ nói chú ra trạm giao liên đón chú.

Riêng với Phạm Khắc thì tôi gắn bó với anh khắp các chiến trường. Tôi tiễn anh đi chiến dịch Đồng Xoài và đón anh về ở một trạm giao liên ở Bình Phước. Sau này, tôi với anh đi khắp các chiến dịch, các mặt trận ở Tây Ninh, Thủ Dầu Một… Tôi và anh cùng Hồng Sến lăn lộn ở chiến dịch Gian-xơn Xi-ti, có lần B.52 vùi cả ba đứa, có lần trên đường rút về sau lại suýt nữa bị quân ta phục kích… tiêu diệt.

Năm 1968, ở mặt trận Sài Gòn, tôi với anh đi theo Tiểu đoàn 6 Bình Tân cùng Nguyễn Thi... Sau này, tôi với anh cùng có mặt ở Phnôm Pênh (Camphuchia) tháng 1-1979, tôi mở đường vào nhà tù Toul Sleng để anh và anh em quay những thước phim quý giá. Khi tòa án quốc tế diễn ra ở Phnôm Pênh thì anh đã mất. Tôi đem phim tư liệu về Toul Sleng đến tòa án làm bằng chứng, buộc bọn diệt chủng phải cúi đầu nhận tội. Tôi với anh cùng hợp tác làm nhiều phim tài liệu có giá trị như “Sư đoàn 9 Anh hùng”, “Quân đoàn 4 tuổi 20”, “Dấu son Bình Giã”, “Trận Ấp Bắc”...

Tôi cũng rất thân với một người không phải quê Bến Tre nhưng gắn bó với xứ dừa. Đó là anh Đặng Bá Tiên, quê Thanh Hóa, trợ lý quân sự cho chị Ba Định, Tổng thư ký Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh. Anh đã được chị Ba cấp tiền, mua tàu để vượt biển ra Bắc báo cáo với Bác Hồ và Trung ương Đảng về “Đồng Khởi”. Anh cũng đã truyền đạt ý kiến của chị Ba Định xin Bác và Trung ương gửi súng đạn cho miền Nam trước cả những chuyến đi chuẩn bị cho “tàu không số” chở vũ khí về Nam.

Có một lúc, xuất hiện ý kiến khác nhau về đánh giá “Đồng Khởi”. Có ý kiến cho rắng “Đồng Khởi” từ Gò Quản Cung (Đồng Tháp Mười), từ chiến thắng Tua Hai (Tây Ninh), từ Sơn Hà (Quảng Ngãi)... Tôi thuộc về “phe” bảo vệ sự đánh giá của Đại hội Đảng lần thứ 4 đã ghi vào Nghị quyết rằng: Bến Tre là quê hương của đồng khởi”. Anh Lê Minh Đào, nguyên Tỉnh đội trưởng Bến Tre rất thân với tôi, yêu cầu tôi đứng ra bảo vệ đánh giá Bến Tre là quê hương “Đồng Khởi”. Nhân kỷ niệm 40 năm “Đồng Khởi” (1960-2000), tôi đã viết bài “40 năm Đồng Khởi Bến Tre” đăng trên Báo “Đồng Khởi” của Đảng bộ Bến Tre. Nhiều đồng chí ở Bến Tre và miền Nam hoan nghênh ý kiến của tôi về đánh giá “Đồng Khởi”. Tôi nghĩ rằng: Đồng Khởi là một cuộc nổi dậy đồng loạt của nhân dân. Vì vậy, chỉ có cuộc nổi dậy  ở Bến Tre khởi đầu ngày 17-1-1960 mới gọi là “đồng khởi”. Một số  trận thắng lớn  như Tua Hai, Gò Quản Cung là những chiến công vang dội gây hoang mang cho kẻ địch, tạo thế, tạo lực cho phong trào cách mạng ở miền Nam. Tuy nhiên, các trận đánh đó không tạo được sự nổi dậy đồng loạt của nhân dân đứng lên diệt ác ôn, giành chính quyền. Vì lẽ đó, Bến Tre vẫn là “Quê hương Đồng Khởi”.

Về sau này, do làm ngành truyền hình, tôi gắn bó với việc tuyên truyền về Bến Tre. Tôi đã tham gia viết thuyết minh, phát biểu trong phim chị Ba Định, viết kịch bản và chỉ đạo làm phim về Tạ Minh Khâm... người con của Bến Tre đánh giặc giỏi ở miền Đông Nam Bộ. Trong kháng chiến chống Mỹ, chị Thúy Ba là Giám đốc Bệnh viện lớn nhất miền Nam, là người hiền hậu, luôn chăm sóc sức khỏe cho anh em nhà văn, nhà báo. Cho đến nay, đã về hưu, chị vẫn nhắc nhở các bác sĩ thân thiết “ngó chừng” sức khỏe của tôi để viết nhiều cho miền Nam.

Trong kháng chiến chống Mỹ, chị Ba Định rất thương yêu tôi, bởi đã xa mẹ, xa người yêu về miền Nam chiến đấu. Đi đến đâu, ở hội nghị nào, chị cũng gọi thăm tôi, nhắc nhở sống khỏe và dũng cảm. Vào năm 1970, chị đề nghị báo Giải Phóng cho tôi sang cơ quan Phụ nữ giải phóng giúp chị ghi lại những ký ức về cuộc “Đồng Khởi” Bến Tre. Nhờ đó, tôi hiểu thêm rất nhiều về phong trào cách mạng Bến Tre và những người con Bến Tre. Đáng tiếc, việc chưa xong chị phải đi chỉ đạo cuộc chiến đấu giúp nhân dân Campuchia giải phóng.

Hôm chị Ba mất, Ban lễ tang và những người thân họp mặt ở Dinh Thống Nhất, các anh chị đã cho phép tôi được chọn ảnh chị Ba để làm lễ tang và thờ vì cho rằng tôi như một người em thân thiết của chị Ba. Tôi đã chọn tấm hình chị ba mặc áo dài trắng bình dị bởi “miền Nam kính yêu chị như một người chị, người mẹ hiền hậu, nhân ái”...

Cho đến nay đã 47 năm từ ngày đặt chân đến Bến Tre, tôi luôn giữ tình cảm thân thiết với đồng bào, đồng chí Bến Tre - bởi mảnh đất ấy đã để lại trong tôi rất nhiều kỷ niệm thân thương và nhiều đồng chí, bạn bè mà tôi yêu quý.

Đinh Phong

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN