Triển khai kế hoạch điều chỉnh mức sinh phù hợp đến năm 2030

30/08/2021 - 06:31

BDK - Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VII ban hành Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 14-1-1993 về chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình. Qua gần 30 năm tổ chức triển khai thực hiện, tỉnh đã khống chế mức tăng dân số tự nhiên, ổn định quy mô dân số, chất lượng dân số được nâng lên, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội.

Một buổi giao ban với lãnh đạo trung tâm y tế các huyện, thành phố về công tác dân số trong tình hình mới. (hình ảnh trước khi dịch Covid-19)

Một buổi giao ban với lãnh đạo trung tâm y tế các huyện, thành phố về công tác dân số trong tình hình mới. (hình ảnh trước khi dịch Covid-19)

Mức sinh dưới mức sinh thay thế

Tỉnh đã khống chế thành công tốc độ gia tăng nhanh quy mô dân số. Hiện nay, tốc độ tăng dân số của tỉnh là 0,52%/năm, thấp xa so với 3 - 4 thập kỷ trước đây (trên dưới 3%/năm) và ở mức rất thấp so với nhiều tỉnh, thành trên cả nước. Mỗi cặp vợ chồng có 2 con đã trở thành chuẩn mực, lan tỏa, thấm sâu trong toàn xã hội. Số con trung bình mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đã giảm mạnh từ 3,2 con năm 1993 xuống 2,33 con năm 1999 và 1,86 con năm 2019 được duy trì cho đến nay. Mức sinh đã giảm ở tất cả các huyện, thành phố và xuống dưới mức sinh thay thế. Tỷ lệ dân số “trong độ tuổi lao động” tăng nhanh. Năm 1989, nhóm này chỉ chiếm 53% tổng dân số, thì đến năm 1999 đã đạt 67,31% và năm 2019 là 68%. Cơ cấu “dân số vàng” tạo cơ hội cho tích lũy nguồn lực để tăng đầu tư cho an sinh xã hội, y tế, giáo dục, việc làm trong tương lai.

Tuy nhiên, giai đoạn hiện tại, mức sinh của tỉnh nằm trong danh sách 21 tỉnh có mức sinh thấp cả nước. Số con trung bình của mỗi cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ giảm nhanh (1,86 con/phụ nữ). Mức sinh đạt thấp hơn ngưỡng chuẩn mức sinh thay thế (2,1 con). Tổng tỷ suất sinh hay số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ của tỉnh năm 2020 là 1,83 con/phụ nữ. Mức sinh xuống thấp dưới mức sinh thay thế dự báo sẽ kéo theo nhiều hệ lụy, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và các chính sách an sinh xã hội của tỉnh.

Thực tế, bài học từ nhiều quốc gia trong khu vực cho thấy, nếu để mức sinh xuống quá thấp và duy trì trong một thời gian dài sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến quy mô dân số và đặc biệt là cơ cấu dân số. Mức sinh thấp dẫn đến nguy cơ suy giảm dân số, thiếu hụt nguồn lực lao động sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, đảm bảo quốc phòng, an ninh. Mặt khác, tỷ lệ người cao tuổi ngày càng tăng trực tiếp đe dọa tới quỹ hưu trí và bảo hiểm y tế, tạo gánh nặng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đồng thời, kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới cho thấy, việc để mức sinh giảm sâu sẽ rất khó trong việc đưa mức sinh trở về mức sinh thay thế.

Tập huấn cho viên chức dân số về nâng cao kỹ năng truyền thông trong tiếp cận các dịch vụ phương tiện tránh thai. (hình ảnh trước khi dịch Covid-19)

Tập huấn cho viên chức dân số về nâng cao kỹ năng truyền thông trong tiếp cận các dịch vụ phương tiện tránh thai. (hình ảnh trước khi dịch Covid-19)

Tăng 10% tổng tỷ suất sinh

Nhận thấy rõ vai trò quan trọng của việc điều chỉnh mức sinh đối với sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của tỉnh, thực hiện Quyết định số 588/QĐ-TTg ngày 28-4-2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030”, Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình đã tham mưu Sở Y tế trình UBND tỉnh phê duyệt ban hành Kế hoạch điều chỉnh mức sinh phù hợp tỉnh đến năm 2030. Mục tiêu kế hoạch đề ra đến năm 2030 là tăng 10% tổng tỷ suất sinh của tỉnh (TFR bình quân của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có dưới 2,0 con/phụ nữ) và trong giai đoạn kế hoạch tăng 5% số cặp vợ chồng sinh đủ 2 con tại các huyện, thành phố.

Kế hoạch được triển khai thực hiện trên phạm vi toàn tỉnh và chia thành 2 giai đoạn. Giai đoạn từ 2021 - 2025, tỉnh tập trung triển khai các hoạt động của kế hoạch đến các huyện, thành phố có mức sinh thấp thí điểm và mở rộng mô hình khuyến khích cặp vợ chồng sinh đủ 2 con. Giai đoạn từ 2026 - 2030, tỉnh sẽ tổ chức đánh giá, điều chỉnh, mở rộng và nâng cao chất lượng các hoạt động; bổ sung chính sách, biện pháp điều chỉnh mức sinh cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn.

Hội diễn văn nghệ truyền thông về chính sách dân số. (hình ảnh trước khi dịch Covid-19)

Hội diễn văn nghệ truyền thông về chính sách dân số. (hình ảnh trước khi dịch Covid-19)

Để triển khai thực hiện kế hoạch điều chỉnh mức sinh phù hợp tỉnh đến năm 2030, ngành dân số tỉnh sẽ tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm như sau:

Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy, chính quyền trong việc triển khai thực hiện kế hoạch điều chỉnh mức sinh. Tiếp tục quán triệt sâu sắc hơn nữa việc chuyển hướng công tác dân số từ tập trung vào kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển, thực hiện tăng và duy trì mức sinh thay thế. Huy động các ngành, đoàn thể tham gia thực hiện kế hoạch về dân số và phát triển; giao nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành, đoàn thể ở mỗi địa phương, đơn vị trong tổ chức thực hiện. Lồng ghép đánh giá cán bộ, đảng viên hàng năm về sự gương mẫu trong thực hiện sinh đủ 2 con, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc.

Đẩy mạnh công tác truyền thông, vận động chuyển đổi hành vi với các hình thức đa dạng, phong phú, sinh động, hấp dẫn và thuyết phục phù hợp với văn hóa, tập quán, từng nhóm đối tượng. Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng các nội dung của Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới. Đặc biệt, tập trung tuyên truyền nội dung chuyển hướng chính sách về quy mô dân số từ tập trung vào nỗ lực giảm sinh sang duy trì mức sinh thay thế. Chú trọng thực hiện vận động các cặp vợ chồng sinh đủ 2 con tại mỗi địa bàn, đặc biệt là ở những nơi có mức sinh thấp. Phát triển hệ thống thông điệp truyền thông, nội dung tuyên truyền, vận động sinh 2 con. Cung cấp nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục về dân số, sức khỏe sinh sản trong và ngoài nhà trường cho giáo viên phù hợp với từng cấp học, lứa tuổi trong hệ thống giáo dục.

Mở rộng tiếp cận các dịch vụ sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình và các dịch vụ có liên quan. Đưa dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản tới mọi người dân đảm bảo công bằng, bình đẳng trong tiếp cận, sử dụng dịch vụ, không phân biệt giới, người đã kết hôn, người chưa kết hôn. Triển khai các loại hình phòng tránh vô sinh từ tuổi vị thành niên tại cộng đồng. Đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, phát triển mạng lưới hỗ trợ sinh sản.

Bên cạnh đó, chú trọng đẩy mạnh hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cán bộ quản lý, cán bộ làm công tác dân số các cấp, các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội. Đặc biệt, kiến thức, kỹ năng lồng ghép các nội dung điều chỉnh mức sinh vào nhiệm vụ, hoạt động của các ngành, đơn vị. Nghiên cứu, thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ về quy mô dân số, mức sinh trong mối quan hệ qua lại với phát triển kinh tế - xã hội; các nghiên cứu tác nghiệp về những giải pháp, can thiệp nhằm điều chỉnh mức sinh phù hợp cho từng giai đoạn và từng địa phương. Định kỳ kiểm tra, giám sát, hỗ trợ, đánh giá; kịp thời đề xuất cơ chế, chính sách phù hợp với thực tiễn. Sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện giai đoạn 2021 - 2025 để điều chỉnh cho phù hợp với giai đoạn 2026 - 2030.

Với các nhiệm vụ đã đặt ra, đòi hỏi các ngành, các cấp phải tập trung tổ chức, hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể đảm bảo phủ khắp địa bàn tỉnh. Đặc biệt, phát huy vai trò tham mưu, phối hợp của các ngành, các cấp để triển khai một cách đồng bộ, đảm bảo cả nhân lực và vật lực. Từ đó, bổ sung các chính sách hỗ trợ, khuyến khích liên quan đến điều chỉnh mức sinh, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu đã đề ra từ nay đến năm 2030.

Bài, ảnh: Anh Kiệt

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN