Triển khai nhiều chương trình, dự án ứng phó với biến đổi khí hậu

14/06/2011 - 17:04
Rừng góp phần giảm thiểu ảnh hưởng biến đổi khí hậu. Ảnh: Tr.Q

Ông Đoàn Văn Phúc - Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường, kiêm Phó Chánh Văn phòng Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre cho biết, năm 2011, với tổng kinh phí 24,44 tỷ đồng, trong đó Chính phủ Đan Mạch tài trợ 22 tỷ đồng và vốn đối ứng từ ngân sách địa phương 2,44 tỷ đồng, tỉnh sẽ tập trung thực hiện các công việc như:

đánh giá mức độ biến đổi khí hậu (BĐKH), xây dựng kịch bản BĐKH và nước biển dâng; nâng cao nhận thức và đào tạo nguồn nhân lực; xây dựng và triển khai các kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH. Năm 2010, Bến Tre được phân bổ kinh phí 13,5 tỷ đồng và đã triển khai lập dự án “Đánh giá tác động, chi tiết kịch bản BĐKH và đề xuất phương án ứng phó”; thực hiện chỉnh sửa, bổ sung và ban hành kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH; triển khai các dự án thí điểm: thiết kế và triển khai mô hình cấp nước sinh hoạt ứng phó với BĐKH tại xã Bình Thành (Giồng Trôm), công suất 20 m3/giờ, thiết kế và triển khai mô hình điểm đê ngăn mặn cục bộ, ngọt hóa ở ấp 3 và 4, xã Thạnh Trị (Bình Đại), xây dựng ống hồ chứa nước cấp cho hộ dân ở xã Bình Thành và Châu Bình (Giồng Trôm); tổ chức tuyên truyền, hội thảo về BĐKH.

Theo đánh giá của Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Việt Nam là một trong 5 nước trên thế giới dễ bị tổn thương đối với BĐKH; vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong 3 vùng châu thổ trên thế giới được xếp vào nhóm có nguy cơ cao do BĐKH. Bến Tre là tỉnh nằm trong khu vực ĐBSCL và ở cuối nguồn nên chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH. Bến Tre có chiều dài bờ biển 65km, tiếp giáp với biển Đông và Bến Tre có hệ thống sông ngòi chằng chịt, trên 90% diện tích có độ cao dưới 2m so với mực nước biển, trong đó vùng thấp ven sông, biển chỉ dưới 1m, thường xuyên bị ngập khi triều cường. BĐKH đã và đang tác động ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực, việc xây dựng và thực hiện kế hoạch ứng phó với BĐKH ở Bến Tre là hết sức cần thiết.

 Theo kịch bản BĐKH quốc gia, tác động của BĐKH và nước biển dâng tác động đến tài nguyên môi trường đất và diện tích khu vực do ngập, tác động đến tài nguyên môi trường nước, môi trường không khí, tác động đến con người, sức khỏe cộng đồng, kinh tế và xã hội. Khung kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH của Bến Tre nhằm định hướng các chương trình, dự án phát triển theo hướng thích ứng với xu thế BĐKH, phòng tránh và giảm các thiệt hại rủi ro do thiên tai gây ra; đồng thời giảm nhẹ BĐKH góp phần thực hiện các mục tiêu quốc gia về BĐKH và phát triển bền vững ở địa phương.

Đối với dải ven bờ, kịch bản BĐKH quốc gia thực hiện các chương trình, dự án xây dựng tuyến đường bờ biển kiên cố có tính đến độ cao mực nước biển dâng ở những nơi cần thiết; nâng cấp hệ thống đê biển và đê vùng cửa sông, bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập  mặn và vùng đất ngập nước ven biển. Đối với vùng biển, kịch bản tổ chức các chương trình quản lý những thay đổi hệ sinh thái đại dương, mở rộng nghề nuôi trồng thủy sản, nghiên cứu đổi mới và quản lý tổng hợp nghề cá giữa đại dương và ven bờ; đầu tư hệ thống cảnh báo và dự báo thời tiết, khí hậu và hải dương chuyên phục vụ các hoạt động trên biển. Ngoài ra, còn có các chương trình đầu tư hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi ngọt hóa cống đập Ba Lai, Cầu Sập, nâng cấp các công trình kênh mương điều tiết và hệ thống thoát nước đô thị; quy hoạch và quản lý nguồn nước ngầm và nước mặt, quy hoạch đất đai để trồng rừng, phủ xanh đất trống nhằm tích trữ nước mưa, giữ ẩm và giảm cường độ bốc hơi nước. Bảo tồn và gìn giữ các giống cây trồng, vật nuôi bản địa, ứng dụng khoa học công nghệ trong việc lai, ghép tạo giống mới; tổ chức và nâng cấp ngân hàng giống, phát triển giống mới cho năng suất cao, thích nghi với điều kiện thiếu nước, khô hạn, xâm nhập mặn. Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi thích ứng với BĐKH. Ứng dụng khoa học công nghệ vào canh tác nông nghiệp để tăng năng suất và giảm nhẹ khí nhà kính. Điều chỉnh các chính sách vĩ mô và xã hội hóa trong trồng rừng, quản lý và bảo vệ rừng gắn với các chính sách xã hội như giao đất, giao rừng, định canh, định cư, xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích và tạo điều kiện cho người dân ven biển làm nghề rừng để sống và làm giàu từ chính nghề rừng. Tỉnh du nhập và phát triển giống thủy sản có giá trị cao, thích nghi với nhiệt độ cao và xâm nhập mặn, gia tăng độ sâu của ao hồ để tạo nhiệt độ thích hợp và giảm tổn hại do quá tình tăng nhiệt độ và bốc hơi  nhanh của mặt nước. Thiết lập các khu bảo tồn sinh thái tự nhiên; phát triển nuôi cá nước ngọt trong các đập, ao, hồ theo mô hình nông - lâm - ngư nghiệp kết hợp. Xây dựng hệ thống phòng tránh, trú bão, sóng và nước dâng. Bố trí tối ưu nhu cầu sử dụng đất cho các dự án, công trình đã được ghi trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch ngành, lĩnh vực; điều chỉnh các quy hoạch đã có khi cần thiết có tính đến hậu quả của BĐKH. Các chương trình, dự án nghiên cứu trọng điểm, nhất là nghiên cứu các giải pháp ngăn chặn suy thoái đất, ô nhiễm môi trường, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên đất theo hướng phát triển bền vững. Nghiên cứu điều chỉnh đất đô thị, khu vực dân cư, đặc biệt là những nơi có nguy cơ bị ảnh hưởng lũ, sạt lở. Tiết kiệm năng lượng trong sinh hoạt, giao thông vận tải, sản xuất và chiếu sáng công cộng. Khuyến khích phát triển các loại phương tiện sử dụng ít hoặc không sử dụng nhiên liệu hóa thạch, đẩy mạnh nghiên cứu và sử dụng nhiên liệu tái tạo trong các phương tiện vận tải. Giáo dục, nâng cao nhận thức cộng đồng về những tổn hại đến sức khỏe do tác động của BĐKH và biện pháp phòng tránh; theo dõi và giám sát dịch bệnh phát sinh do khí hậu, thời tiết thay đổi cực đoan.

Trần Quốc

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN