Vẫn ngày ngày chờ khép kín

05/03/2014 - 07:21
Gần cống đập, cuộc sống rất nông nghiệp.

Bài 2: Lưu mặn - nhiều ngành nghề gặp khó

Cống đập Ba Lai ngăn dòng chảy của sông và bắt buộc xả nước ngọt định kỳ. Tác động của những việc này đã làm thay đổi căn bản và toàn diện đời sống kinh tế của bà con phía hạ lưu, từ cống ra đến biển Đông.

Bài 1: Lưu ngọt - phấn khởi màu xanh

Từ việc ngăn dòng chảy

Khi có cống đập Ba Lai, do Dự án chưa khép kín, việc đóng cửa cống để ngăn thủy triều đã làm thay đổi chế độ chảy tại các cửa nhỏ còn lại để dẫn nước vào vùng dự án. Việc này đã góp phần làm gia tăng tốc độ dòng chảy và xói lở các bờ sông có liên quan và hình thành các bãi bồi lớn ven sông Ba Lai.

Các bãi bồi hình thành rất lớn, người dân đã tận dụng để nuôi sò huyết - một nguồn lợi thủy sản có giá trị kinh tế cao. Thế nhưng diện tích bãi sò thì mênh mông còn người nuôi lại liên tục thua lỗ đến hàng tỷ đồng. “Đừng nói là sò cám, sò vỗ béo cũng phải hơn một năm mới thu hoạch có lãi được. Độ ngọt trên sông cứ tăng cao; nếu ngọt ít thì khiến cho sò èo uột, còn ngọt quá nhiều thì sò sẽ chết. Sò chết cũng còn nhiều nguyên nhân khác” - bà Mai, chủ của nhiều lô sò tại Ba Tri cho biết.

Ông Hồ Văn Thương - Phó trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Ba Tri, cho biết: Theo định kỳ, vào mùa nước trên sông sắp có độ ngọt cao thì cơ quan chức năng sẽ dự báo để bà con thu hoạch sò hay chuyển sò sang sân nuôi khác. “Chúng tôi luôn được dự báo đúng lúc, kịp thời mỗi khi độ ngọt trên sông sắp lên cao. Thu hoạch sớm thì phần nhiều lỗ lã, còn chuyển sân thì chi phí bỏ ra không phải ít; hơn nữa, số lượng sò lớn thì làm gì có đủ sân dự trữ mà thay thế” - bà Mai cho biết.

Một bộ phận người dân vùng này thiếu đất sản xuất nên từ lâu mưu sinh bằng nghề đánh bắt thủy sản trên sông như đóng đáy, đặt đú, đăng bãi… Đến nay, hầu hết đều đã bỏ nghề, nếu bám trụ thì gặp quá nhiều khó khăn. “Cây lâm nghiệp lấn ra, bãi sò thụt vào, nên các bãi đăng cũng không còn nữa. Nước sông bị cản trở dòng chảy, làm cho cá, tép ngày càng khan hiếm, nên đóng đáy sông cũng chẳng có gì. Tôi thấy hiện nay chỉ còn vài người làm nghề này thôi, nhưng muốn làm thì phải đầu tư mua  đồ nghề cỡ lớn đến vài chục triệu bạc mới làm được” - ông Đoàn ở xã Thạnh Phước (Bình Đại) cho biết.

Xả nước ngọt cũng khổ 

Theo báo cáo của ngành nông nghiệp huyện Ba Tri và Bình Đại,  diện tích và sản lượng muối đều liên tục giảm theo từng năm. Ông Ngô Thanh Nhàn (Thạnh Phước - Bình Đại), đã có hơn 40 năm làm muối, cho biết: Hiện nay, do nước không đủ độ mặn nên muối khó đông, phải lâu hơn trước khoảng 10 ngày. Thời gian làm muối cũng rút ngắn cả tháng trời, nên diêm dân bám trụ với nghề này cuộc sống ngày càng khó khăn. Việc xả nước ngọt là theo định kỳ và được cơ quan chức năng thông báo rõ ràng, bà con không tránh được lấy phải ngọt sao? - chúng tôi hỏi. “Lúc xả nước ngọt phải tùy vào lưu lượng và triều cường trên sông, nếu không sẽ bị xói lở nên cơ quan quản lý cống cũng cân nhắc kỹ lưỡng lắm. Nhưng quan trọng là lượng nước ngọt được xả không thể chảy hết ra biển được, vì nước ngoài biển cũng đạp vào. Tôi thấy chúng chỉ hòa cùng nhau, và đương nhiên nước ngọt sẽ nằm ở tầng trên. Khi lấy nước, không thể nào tránh nước ngọt được”- ông Nhàn nêu kinh nghiệm. Bà con diêm dân bên kia sông Ba Lai ở huyện Ba Tri cũng chịu chung số phận như ông Nhàn.

Ông Thương ước lượng: “Trước đây làm muối được 10 phần, nay chỉ còn 8 thôi”. Có nhiều hộ diêm dân bỏ nghề, chuyển sang đào ao thả tôm biển, hay buồn bã hơn là bỏ luôn ruộng muối của gia đình - những thửa muối mặn chát mà những năm về trước đã cho họ cuộc sống ngọt ngào.

Theo người dân cho biết, nghề nuôi tôm biển trước kia ở hạ lưu sông Ba Lai luôn khấm khá. Nay cũng duy trì với nghề nhưng “trầy trật” rất nhiều. “Nước có lúc độ mặn quá cao khiến tôm chết hoặc chai, không lớn, hay có lúc nước ngọt quá lâu, trong khi đã tới mùa thả tôm mà chờ hoài vẫn không thấy mặn, như năm nay chẳng hạn” - anh Lâm ở xã Thạnh Trị bộc bạch.

Báo cáo của Cục Quản lý xây dựng công trình (thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) vào tháng 7-2013 nêu rõ: Khi thi công cống đập Ba Lai, ở thời điểm đó, Quy chế quản lý đầu tư chưa có quy định chủ đầu tư phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (Luật Bảo vệ môi trường ra đời năm 2005, có hiệu lực vào 1-7-2006), nên không ràng buộc việc lập bản dự báo đánh giá tác động của cống đến môi trường để cấp có thẩm quyền xét duyệt. Nhưng những hệ quả ấy sẽ được giải quyết triệt để (bao gồm cả ứng phó với biến đổi khí hậu) khi hệ thống công trình ngọt hóa Bắc Bến Tre (lưu vực sông Ba Lai) được hoàn chỉnh.

Quy mô dự án

Công văn số 567, ngày 9-6-2000 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Dự án ngọt hóa Bắc Bến Tre gồm các cụm công trình sau:

- Cụm 1 gồm các công trình lớn: Cống đập Ba Lai, Cống âu thuyền An Hóa, Bến Tre, cống nước Bến Rớ và kênh dẫn nước thượng nguồn Ba Lai.

- Cụm 2 gồm hệ thống đê và các công trình dưới đê: đê bờ tả sông Hàm Luông, bờ hữu sông Cửa Đại, đê phân ranh mặn ngọt, đê biển Đông, đê ven sông Ba Lai, đoạn từ cống đập ra đến biển.

- Cụm 3: Hệ thống kênh cấp 1, là hệ thống kênh ngang bắt đầu từ sông Ba Lai nối với sông Hàm Luông và sông Mỹ Tho.

- Cụm 4 là hệ thống công trình nội đồng.

Bài, ảnh: Mã Phương

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN