Xuân về nhớ lắm Phú Khương

20/01/2022 - 11:04

“Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở.

Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”.

Chế Lan Viên

Nhà thơ Việt Thanh - Nguyễn Hồ (tháng 5-1975).

Nhà thơ Việt Thanh - Nguyễn Hồ (tháng 5-1975).

Trước đây, mỗi năm về thăm quê nhân dịp Tết, tôi đều ngang Phú Khương cả hai lượt đi, về. Lần nào ký ức cũng thức dậy xôn xao trong lòng. Nay, đường về quê ngắn lại mấy phần nhờ đi tắt qua cầu Phong Nẫm, nhưng tôi vẫn nhất định phải đi ngang qua Phú Khương cho dù phải đi đường vòng. Tôi công nhận mình đã quá nặng lòng với Phú Khương, đơn giản vì nơi đây có cái điều mà nhà thơ Chế Lan Viên đã viết: “Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”. Vâng, vì Phú Khương đối với tôi là nơi “đất đã hóa tâm hồn” từ một mái nhà sàn bình dị, nhưng đầy ắp kỷ niệm từ những ngày Đồng khởi năm 1960.

“Nhà sàn thấp” ở Phú Khương 2, bức ảnh duy nhất còn lại.  Trong ảnh: Nguyễn Thị Duy Minh, con gái của cô Tư Nguyễn Thị Diệp.

“Nhà sàn thấp” ở Phú Khương 2, bức ảnh duy nhất còn lại.

Trong ảnh: Nguyễn Thị Duy Minh, con gái của cô Tư Nguyễn Thị Diệp.

Những năm đầu 1960, ấp Phú Khương có hai ngôi nhà sàn, một thấp một cao gần chợ Lạc Hồng. Bên cạnh nhà sàn cao khang trang là nhà sàn thấp bình dị, chỉ với sàn gỗ mái lá, dưới sàn ngập nước. Chủ nhân nhà sàn thấp là của cô dượng tôi. Cô tôi tên Nguyễn Thị Diệp. Dượng tôi là Phan Duy Hanh, năm 1946, đang du học bên Pháp, ông bỏ về nước tham gia kháng chiến. Ông là chỉ huy cấp đại đội các chiến sĩ quốc tế trong đơn vị của tướng Đồng Văn Cống. Cô và dượng tôi gặp nhau trong kháng chiến chống Pháp, đình chiến năm 1954 thì về đây xây tổ ấm. Dượng Tư Phan Duy Hanh là con trai người điền chủ ở Cồn Ốc, có công hiến điền cho cách mạng - cụ Hội đồng Ngọc. Dượng Tư kế thừa biệt thự lớn của cha ở trung tâm thị xã, cách bờ hồ chừng trăm mét nên tôi quen gọi là biệt thự Bờ Hồ. Các chị em con riêng của dượng ở cả hai nơi từ biệt thự tới nhà sàn với cô dượng. Cô rước bà nội tôi về đây phụng dưỡng. Cô giúp ba má tôi chăm sóc anh em tôi lần lượt ở trọ đi học trường tỉnh. Tôi đến nhà sàn đầu tiên năm 1957, lúc đang học đệ ngũ thì Trường Trung học Mỹ Lồng bị đóng cửa. Tôi phải học trung học đệ nhất và đệ nhị cấp ở hai nơi: Bến Tre và Mỹ Tho. Thi rớt, tôi về lại nhà sàn Phú Khương từ cuối năm 1959.

Ký ức về nhà sàn bắt đầu từ cái hôm gặp anh Sáu Hoàng Hữu, một trong những người lãnh đạo đầu tiên thị xã năm 1960. Hôm đó, tôi đi dự cuộc họp lập nhóm bút học trò (Bút Mới) về muộn. Bước lên bậc tam cấp, thấy phòng khách tối om, tôi bật đèn nhưng dượng không cho. Dượng bảo tôi xuống nhà dưới chờ một lát, có việc cần. Chừng mười phút sau, dượng gọi tôi trở lên phòng khách. Dượng nói: Có chú Sáu muốn gặp cháu. Công việc của dượng xong rồi, để hai người nói chuyện riêng.

Ở phòng khách, nhờ ánh sáng yếu ở cửa bóng đèn đường rọi vào nên tôi có thể nhận dạng người khách lạ dù chỉ mơ hồ. Đó là người đàn ông trung niên cao, gầy, mặc âu phục, áo trắng dài tay, trán cao, mắt sáng. Lời đầu tiên ông nói: Hãy gọi anh bằng anh cho thân mật. Anh nói chậm rãi vừa đủ nghe: Anh là bạn kháng chiến của ba em, của cô Tư, dượng Tư em. Anh cũng đã liên lạc với ba em rồi. Ba em sẽ về hoạt động ở đây. Hai Ấn cũng nói với anh về nhóm Bút Mới vừa thành lập, anh ủng hộ. Bây giờ đang là thời điểm gầy dựng cơ sở cách mạng trong thanh niên, học sinh nội ô, rất cần sự tham gia của em và các bạn em trong nhóm. Anh muốn em suy nghĩ trước về điều này. Sáng mai, anh Hai Ấn sẽ nói với em một số việc cụ thể. Tuần sau anh sẽ gặp lại em. Bây giờ anh phải đi. Anh căn dặn: Phải nhớ ám hiệu khi đến điểm hẹn. Giọng anh rất ấm. Bàn tay anh cũng ấm như giọng nói. Anh ra đường, bước khoan thai như đi dạo, bóng anh đổ dài, nghiêng nghiêng trên phố nhỏ. 

Anh đi nhưng hình bóng anh còn ở lại trong tôi. Là tuổi chú, bác nhưng xưng anh, coi tôi như người bạn nhỏ. Chỉ với mấy câu ngắn ngủi anh đã giải tỏa cho tôi nhiều ưu phiền của tuổi vào đời. Tự nhiên tôi thấy nhẹ trong lòng. Tháng trước, ba tôi ghé thăm tôi ở Mỹ Tho, ông căn dặn: Hễ có hoạt động cách mạng thì phải cẩn thận, biết chắc là người tốt thật sự mới liên hệ. Giờ đây, ba tôi sẽ không còn lo gì nữa. Về Bến Tre khi cùng nhau lập nhóm bút học trò (nhóm Bút Mới), tôi lo có thể bị cả hai bên: nhà cầm quyền và cách mạng nghi ngờ đám học trò làm quốc sự. Giờ đây có thể hiểu là nhóm bút chúng tôi đã được chống lưng, do đó mặc nhiên chúng tôi đến với cách mạng bằng thân phận người cầm bút học trò.

Tháng 5-1960, thị xã mở đợt võ trang tuyên truyền. Truyền đơn được anh Hai Ấn (Đào Công Thoại) in roneo tại gác trọ nhà ông trưởng ấp Phú Khương, cơ sở của anh Sáu. Truyền đơn và pháo lùng từ nhà chú Tám Tịnh bên Nhơn Thạnh qua đò Cây Me, đò Rạch Vông, vào thị xã. Một đêm tháng 5, các tổ tự vệ của một cánh nhỏ trong học sinh hẹn đồng loạt nổ pháo lúc 0 giờ. Mới chiều, một gói hàng do chị Hai Gọn, bà xã nhà thơ học trò Việt Thanh đưa đến. Tôi chia làm ba gói nhỏ, mang đi giao. Một gói để lại, tôi giấu tạm trên máng xối. Lát sau khi tôi vừa về gần tới nhà thì nghe tiếng nổ đùng đùng phát ra từ bếp nhà sàn. Tôi chạy nhanh vô nhà. Trước mắt tôi là cảnh tượng hãi hùng. Bà nội tôi đứng ôm mặt giữa nền nhà bếp đầy tàn lửa đỏ. Cái chảo văng khỏi lò nằm chỏng chơ dưới đất. Cô và dượng tôi từ nhà trên chạy xuống dìu bà nội tôi lên nhà chăm sóc. Tôi lo dọn dẹp phi tang, quét tất cả xác pháo, tàn lửa vô nhà tắm, dội nước cho trôi xuống cống. Chưa kịp xong thì nghe tiếng tu huýt réc réc ngoài hẻm hông nhà sàn. Có tiếng giày lính và ánh đèn pin quét ngang dọc dưới sàn nhà. Có người lớn tiếng khẳng định: Ông trưởng ấp, dứt khoát nổ trong nhà sàn này, tôi thấy nháng lửa ở đây.

Đang lúng túng trước hiểm nguy ập đến thì ngoài ngã ba có tiếng pháo nổ lớn. Tiếp theo, pháo còn nổ ở nhiều nơi khác: cầu Bà Mụ, ngã tư Tú Điền, cầu Cá Lóc. Ngoài hẻm, ánh đèn pin của cảnh sát cũng đổi hướng quét, tiếng giày, tiếng chân chạy xa dần. Tôi chợt hiểu, nhà sàn nơi bà nội vô tình nổ trái pháo lịnh trước giờ G đã được giải cứu nhờ những tiếng nổ hưởng ứng kịp thời của đồng đội.

Tôi báo cáo sự kiện này với anh Sáu. Anh nói: Rất may, nếu bị phát hiện trong nhà có gói hàng đó thì cả nhà sẽ bị Luật 10/59. Lỗi này của em, coi như bà nội sửa lỗi cho em. Suy nghĩ mấy giây, anh Sáu nói: Ngoài ra, phải tính công cho bà nội vì đã nổ pháo lịnh, từ đây sẽ có hợp đồng theo tiếng pháo. Tôi được học bài đầu tiên: nhìn nhận sự việc một cách tích cực bằng tấm lòng nhân hậu của anh Sáu đối với bà cháu tôi.

Bà nội tôi sinh năm 1897, tới lúc này đã ngoài sáu mươi. Kháng chiến lần thứ nhất bà tiễn 4 người con ra đi. Hai người hy sinh là chú Năm và chú Bảy tôi, đến lúc ấy chưa biết mồ mả nơi đâu. Hai người con trở về là ba tôi và cô Tư.

Pháo nổ ngoài ý muốn, nhưng cả nhà chỉ lo khắc phục hậu quả, coi đó là chuyện đương nhiên. Mọi việc sinh sống và hoạt động trong nhà đều bình thường như trước khi pháo nổ. Nhưng anh Sáu không để tôi tiếp tục ở đây nữa. Tôi vào An Thạnh bên tả ngạn sông Bến Tre, ở gần căn cứ của anh. Chủ nhà tôi ở là chú Sáu Nguyện, em cùng cha khác mẹ với chú Võ Trọng Cảnh (nhà văn Trang Thế Hy). Từ đó, tôi có hai nơi, nhà trong An Thạnh là chính và nhà sàn trở thành chỗ ở dự bị.

Tháng 9-1960, thị xã phát động một đợt mới. Lần này, trong “ba mũi giáp công” có mũi chính trị của “Đội quân tóc dài”. Thị xã hỗ trợ mũi đấu tranh chính trị tập trung của “Đội quân tóc dài” đến từ thôn quê. Có tới năm, sáu cánh quân từ Giồng Trôm, Ba Tri, Bình Đại, Châu Thành, Mỏ Cày, Thạnh Phú hội về thị xã. Anh Sáu dặn tôi và các bạn sáng sớm đi nắm tình hình các cánh quân rồi về gặp anh ở biệt thự Bờ Hồ. Tôi đạp xe rảo qua một vòng các cửa ngõ vào thị xã. Đầu tiên là ngã ba Tháp rồi đến cầu Cá Lóc, cầu Nhà Thương, bến đò Cái Cối… “Đội quân tóc dài” tới từ khuya và đang bị chặn lại tại các cửa ngõ. Tôi thấy thấp thoáng vài bạn quen ở các vị trí này, nghĩa là có nhiều cánh cơ sở học sinh bám vị trí được giao chứ không riêng gì cánh bọn tôi. Tôi đạp xe đi một vòng hẹp hơn, qua dinh Tỉnh trưởng, tòa hành chánh, sau cùng mới đến biệt thự Bờ Hồ để báo cáo. Tôi thật sự tò mò, hiếu kỳ muốn được tận mắt chứng kiến anh Sáu chỉ huy trận mạc, chắc oai phong lắm. Đến nơi, tôi hết sức ngạc nhiên thấy cô dượng và ba tôi ở phòng khách cùng với nhiều người, nhưng không thấy anh Sáu đâu. Tôi hỏi anh Mười Ta - chiến sĩ cận vệ, anh kề tai nói nhỏ bảo tôi đi vòng ra phía sau nhà. Anh Sáu đang ngồi ngoài hành lang nhìn ra sân sau với vài người lạ. Anh Sáu ra hiệu cho tôi chờ, anh gặp riêng sau. Tôi đi loanh quanh biệt thự phát hiện dưới nền là một hồ xi-măng lớn như một hồ bơi chứa nước mưa. Tôi thoáng nghĩ phải chăng hồ chứa nước này sẽ là nơi lánh nạn của anh rồi tự mình xấu hổ với ý nghĩ này khi chứng kiến cái không khí an nhiên tự tại ở đây.

Trong khi cuộc đấu tranh bên ngoài đang diễn biến thì trong biệt thự đang tạo vỏ bọc là cuộc gặp gỡ của các trí thức nhân sĩ thị xã do cô dượng và ba tôi chủ trì tuồng như không dính dáng gì với công việc của chỉ huy sở chính trị. Công khai và bí mật, bí mật và công khai hòa quyện với nhau. Khi gặp tôi, anh Sáu nói vắn tắt: Bà con bị gom vô sân banh phơi nắng. Cần tiếp tế bánh mì, nước uống. Nếu nón lá bị vẽ tố Cộng thì bà con nhất định sẽ vứt bỏ nó. Lúc đó cần có nón lá, dù che càng nhiều càng tốt để bà con che nắng. Tôi chạy đi. Lát sau tôi trở lại thì anh đã chuyển đi chỗ khác rồi. Anh ẩn, hiện biến hóa nhẹ như không. Không giống như tôi nghĩ: Anh không lẫm liệt như một vị tướng, cũng không bí ẩn như cái hồ chứa nước kín đáo kia sẵn sàng làm hầm bí mật khi cần. Quả thật là như vậy đó! Trong trận đấu này của “Đội quân tóc dài” với dùi cui ma trắc, anh và mọi người đến biệt thự Bờ Hồ chỉ làm công việc của người nội trợ, như một người mẹ, người chị đảm đang. Mọi người đến đây, dù trong vai trò nào họ cũng làm tròn vai và chắc chắn đã sẵn sàng chịu đựng mọi thử thách nếu như bị địch phát hiện.

Những trái pháo lùng do anh Nguyễn Văn Bá - con trai chú Tám Tịnh chế lại cho phim tài liệu Du kích xứ Dừa.

Những trái pháo lùng do anh Nguyễn Văn Bá - con trai chú Tám Tịnh chế lại cho phim tài liệu Du kích xứ Dừa.              

 Ngày 11-11-1960, cuộc đảo chánh đầu tiên nổ ra ở Sài Gòn. Cơ sở cách mạng tại thị xã Bến Tre xôn xao, ai cũng nôn nóng muốn làm điều gì đó để “chớp thời cơ”, tạo bước đột phá cho phong trào. Nhiều cơ sở cốt cán vô căn cứ xin gặp, tôi nhớ, có cả ba tôi nữa. Anh bình tĩnh nói: Trong khi chờ chỉ thị của cấp trên, không nên tự phát hành động. Đây chỉ đơn giản là “thay ngựa giữ dòng” thôi, chứng tỏ địch cũng ngấm đòn Đồng khởi. Nhân cơ hội này ta phát triển cơ sở vững mạnh hơn chớ đừng tính non, cho là thời cơ giải phóng.

Mọi người lặng lẽ ra về với tâm trạng không thỏa mãn. Khi còn lại một mình tôi, anh nói riêng: Sẽ chuyển địa bàn chỉ đạo nội ô qua hữu ngạn sông Bến Tre thuận lợi hơn. Anh căn dặn tôi cứ ở yên chỗ cũ, di chuyển căn cứ xong anh sẽ cho người bắt liên lạc. Qua đò Rạch Vông bị khám xét bất ngờ, tôi giả đò bị trễ học xin được ưu tiên khám trước. Viên cảnh sát nhìn đồng phục có phù hiệu học sinh Cộng hòa, nhìn chiếc cặp đã mở toang đầy sách vở của tôi gật đầu bảo: Gấp thì đi đi. Tôi thoát, trong cặp có đủ cờ, truyền đơn xếp chung với sách vở.

Về đến nhà sàn thì có người chờ sẵn bên nhà bạn tôi. Đó là Dũng bên cánh võ trang rủ tôi tối xuống nhà Võ Phạm (Võ Viết Thanh). Nguyên tắc không cho phép tôi tự động liên hệ với người khác cánh, nhất là cánh võ trang. Nhưng do máu “chớp thời cơ” đảo chánh còn nóng, khiến tôi đến Cây Da ấp An Hòa vừa đúng lúc Võ Phạm và tổ hành động cải trang mặc đồ xanh Giải phóng quân, danh nghĩa Tiểu đoàn 502 phá thế kềm kẹp ấp An Hòa. Súng giả và giả súng là chính, tôi tự trang bị cho mình một đoạn cây cau coi như súng Bazoca. Duy nhất chỉ có khẩu Colt 6.32 của Võ Phạm là thật, hình như tạm mượn của anh Sáu. Ảnh Ngô Đình Diệm, cờ ba sọc bị thu, thiêu hủy tại chỗ. Một số anh còn tự động thu cả sổ gia đình, giấy căn cước của bà con, hoàn toàn chưa nghĩ đến lợi hại ra sao.

Đến khuya, sắp mãn cuộc, chúng tôi ra ngã ba lộ 26 - bến đò Rạch Vông định phân tán ai về nhà nấy. Nhưng lính dân vệ bót Rạch Vông đã phục kích sẵn. May là chỉ có súng trường nổ chát chúa cảnh cáo thôi. Tổ của Võ Phạm bơi qua sông về Nhơn Thạnh, tôi và Dũng xuống rạch Gò Đàng lội ngược lên cầu Thầy Cai vào nhà người quen tá túc. Chợp mắt một lát thì trời sáng. Tôi về lại nhà sàn an toàn nhưng bà nội phát hiện nhiều vết gai quào trên trán, trên cổ và ở bàn chân tôi. Tôi nói dối đêm qua con về Phong Mỹ, xe đạp đứt thắng con lủi xuống mương ô rô. Chúng tôi cũng giấu biệt chuyện này với anh Sáu, định để sau ngày dời căn cứ qua hữu ngạn sông Bến Tre sẽ tự phê bình nhận khuyết điểm với anh. Tôi biết trước, đây là tội manh động tự phát, chủ quan khinh địch. Chẳng ngờ từ cái đêm chuyển căn cứ về Ấp 3, Hữu Định, chúng tôi mãi mãi không còn dịp nào để tạ lỗi với anh nữa.

Ngày trùng phùng 20-5-1975.

Ngày trùng phùng 20-5-1975.

Đó là đêm 6 tháng Giêng năm 1961, nhằm Ngày kỷ niệm Đảng Lao động Việt Nam. Khoảng 9 giờ tối, súng liên thanh nổ dồn dập hướng Đông Bắc, cách nhà sàn Phú Khương chỉ mấy cây số. Mọi người trong xóm đều ra đường đứng ngóng về hướng súng nổ. Sáng sớm hôm sau, tôi đạp xe vô xã Hữu Định, tới mí vườn Ấp 3 thì bị các nữ tự vệ chặn lại. Một chị, mắt đỏ hoe, báo tin “Anh Sáu chết rồi, biệt kích còn canh xác anh trong vườn”. Anh Sáu và y tá Tòng hy sinh tại trận. Các chiến sĩ bảo vệ Võ Phạm, Quyết Tâm, Triều Dũng đều bị bắt. Duy nhất Ngô Quang Thiều, do còn thiếu niên, có giấy tờ học sinh nên chúng thả nhầm. Tất cả các khẩu súng đều bắn hết đạn, kể cả khẩu rouleau của anh Sáu. Sau này Thiều kể lại chi tiết này với tôi.

Tôi định trở về nhà sàn để báo tin dữ. Nhưng vừa gần tới thì bạn tôi ở nhà đối diện ngoắc rối rít. Tôi rẽ vô nhà bạn thay vì nhà sàn. Bạn tôi nói, công an chờ anh bên nhà sàn, họ đang ngồi băng đá dưới gốc mận. Bạn tìm cách đưa tôi đi. Hôm đó nhằm ngày 21-11-1960 âm lịch. Còn hơn một tháng nữa là đến Tết đầu tiên sau Đồng khởi.

Từ đó nhà sàn chỉ còn lại cô Tư, bà nội, bé Minh và các em trai tôi: Nguyễn Minh Thu, sau nữa là Nguyễn Minh Chiếm, Nguyễn Minh Lập. Năm Mậu Thân, tôi về Bến Tre từ miền xa, Đông Nam Bộ, gặp lại em tôi từ nhà sàn thoát ly. Đến đầu năm 1969, Minh Thu trở về Phú Khương nhưng là về trong đội hình chiến đấu đặc biệt. Em là trinh sát Tiểu đoàn Đặc công tỉnh, đưa một phân đội hỏa lực tấn công cụm đại bác Mỹ 16 khẩu trong sân banh. Sau này, Đại tá Minh Thảo cho tôi biết: Chúng tôi có hỏa lực nhưng không biết ngõ ngách an toàn để tiếp cận. Tiểu đoàn trưởng Hoàng Quốc Thanh giới thiệu: Trinh sát Minh Thu vốn là cư dân Phú Khương. Không có Minh Thu tôi khó mà thực hiện cuộc tấn công này.

Đầu năm 1962, Bí thư Thị xã ủy Trần Văn Cầu giao tôi tổ chức chi bộ hợp pháp gồm 3 đối tượng Bền Bỉ, Quyết Tâm (và một người nữa tôi quên tên). Tôi mặc đồng phục học trò quần xanh dương, áo trắng, giày ba ta đột nhập vào ấp nhiều ngày. Một nữ sinh áo dài trắng, tóc thề, đoàn viên Thanh niên đưa tôi đi một vòng ấp Phú Khương trước khi tôi về lại căn cứ. Nhà sàn im ắng lạ thường. Nhà đối diện của bạn tôi cũng vậy. Cả hai nhà không thấy ai ra vào. Không thấy bóng bà nội ở nhà bếp đằng sau. Bạn nữ đoàn viên hỏi tôi: Đây là nhà của anh hay sao? Tôi lắc đầu. Tôi rất muốn nói với bạn đây chính là nhà tôi… cho nhẹ lòng, nhưng không dám vi phạm nguyên tắc bảo mật.

Vĩ thanh

- Cuối năm 1960, dượng Tư và ba tôi ra vùng giải phóng. Dượng Tư Phan Duy Hanh là Ủy viên Mặt trận dân tộc Giải phóng tỉnh Bến Tre. Ba tôi công tác Hoa kiều vận. Cô Tư tôi chưa bị lộ nên vẫn tiếp tục sống bình thường và âm thầm hoạt động.

Ngày 1-4-1961, cuộc tiến công vào thị xã Bến Tre không thành. Ngày 26-10-1961 diễn ra sự kiện Thiều - Tuấn. Tôi còn nợ hai sự kiện này hai cuốn sách.

Sau năm Mậu Thân, cô Hai Tổng về lãnh đạo thị xã Bến Tre, một trong những người cô liên hệ đầu tiên là cô Tư.

Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, nhóm phụ nữ cô Tư Nguyễn Thị Diệp, Ngô Thị Triêm, cô sáu Hoàng Điệp… vận động bà con trong xóm Phú Khương may cờ Mặt trận, viết biểu ngữ Chào mừng cách mạng thành công. Em trai tôi, Nguyễn Minh Chiếm cùng đồng đội cũng kịp về tới nhà sàn trong thời điểm này.

Ngày 1-5, lá cờ Mặt trận được treo lên cổng chào tỉnh Kiến Hòa do các cô, các chị tự mình bắc nối hai cây thang để leo lên tới đỉnh cổng chào.

Như vậy, cho đến 30-4-1975, 5 người ra đi đã có 4 người trở lại nhà sàn, chỉ một mình em tôi, Nguyễn Minh Thu ra đi vĩnh viễn.

Sau miền Nam giải phóng, tôi về thăm bà nội, cô dượng Tư… thì nhà sàn đã thành nhà trệt từ lâu. Biệt thự Bờ Hồ cũng đổi chủ thành cơ quan thương nghiệp, sau nữa là nhà giữ trẻ…

Cuối năm 2021

Nguyễn Hồ

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN