Người thổi hồn mỹ nghệ dừa Bến Tre

24/02/2010 - 08:05
Chủ tịch Hội Người cao tuổi Việt Nam Vũ Oanh (trái) trao bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho người cao tuổi làm kinh tế giỏi Trường Ngân. Ảnh do nhân vật cung cấp

Nếu trước đây có những bài viết và đoạn phim phóng sự chỉ dừng lại cái duyên cớ khởi nghiệp, sự thăng trầm, phát đạt hoàng kim của một nghệ nhân mỹ nghệ dừa thì mới phát thảo một nửa chân dung thương gia Trường Ngân, nửa kia còn ẩn khuất trong chiến tranh, nay cần khám phá để biết một “Thường Dân” ngày ấy và sáng thêm gam màu của bức chân dung cựu binh Đặc công - người thổi hồn mỹ nghệ dừa Bến Tre.

“THƯỜNG DÂN” NGÀY ẤY…

Anh có tên Phạm Vân Thanh, con của cụ Phạm Thanh Phòng, thường gọi là Phong Huyền (Phong Huyền Phòng). Vân Thanh thừa hưởng gien văn nghệ của cụ ông nên cũng có lắm chuyện vui về bí danh của mình trong kháng chiến.

Vân Thanh là con một nên được cưng chìu, học hành tử tế. Hồi ấy, những năm đầu của đệ nhất cấp ở Trường Trung học Bình Hòa, anh học cùng với nhiều bạn  đã từng vào Chí Hòa, ra Côn đảo, mà sau này tham gia lãnh đạo cấp tỉnh, thành phố và cả cấp trung ương. Sau khi  tổ chức cách mạng của học sinh bị lộ, ngụy quyền giải tán nhà trường, Vân Thanh sang Mỹ Tho học tiếp ở Trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu. Năm một chín sáu mươi – Đồng Khởi ở quê hương Bến Tre, rồi chuyển thành chiến tranh cách mạng. Vân Thanh trở về làng quê Mỹ Chánh Hòa tham gia kháng chiến vào đầu năm một chín sáu mốt.

Thời đó, ai tham gia cách mạng cũng đều có riêng cho mình một bí danh. Nhiều người ở quêụ được cha mẹ đặt tên dân dã, tuy không đẹp, miễn sao “trời đẻ trời nuôi” mạnh khỏe là vui rồi. Nhưng đa số khi tham gia cách mạng, đều chọn riêng cho mình một bí danh thật đẹp, thật kêu, thật nghệ sĩ, ấn tượng. Còn Vân Thanh thì cố tìm một cái tên bình dị, không “đụng hàng” với ai.

Nghe chương trình văn nghệ của đài phát thanh Hà Nội, biết được một người Nam bộ trong đoàn Văn công Trung ương mang tên “Dân Thường”. Cái tên mộc mạc ấy gợi ý Vân Thanh  lựa chọn bí danh  cho mình là “Thường Dân” và quả thật không “đụng hàng” với mọi bí danh!

Thường Dân gắn bó với kháng chiến mà khởi đầu là thư ký Xã ủy Mỹ Chánh. Với trình độ học vấn đệ tứ lúc đó được xem là người giỏi chữ. Thường Dân được điều về làm thư ký cho Huyện đội Ba Tri. Thấy anh tháo vát, yêu đời, hay hát và khéo tay, nên năm một chín sáu ba, Huyện đội cử đi dự khóa đào tạo ở trường Văn nghệ “Lam Giang” do Cục R tổ chức.

Khi Thường Dân vượt sông Tiền hành quân về miền Đông thì gia đình hai họ đã định ngày tuyên bố thành hôn giữa anh và chị Như Hoàng . Đám cưới vẫn tiến hành mặc dù vắng chú rể. Cái tên Thường Dân ngồ ngộ làm cho hiệu trưởng trường Văn nghệ thắc mắc, gọi lên tìm hiểu: “Đồng chí bất mãn điều gì mà lại có tên Thường Dân?!”. Anh vui vẻ giải thích và mọi người đều mến tính cách bình dân, dí dỏm ấy.

Tốt nghiệp loại giỏi khóa biên đạo múa, Thường Dân nhận quyết định làm Quyền trưởng đoàn Văn công Khu Trung Nam bộ. Tại đây, anh lăn lộn vào lĩnh vực nghệ thuật phục vụ cho chiến trường. Công việc đơn điệu ở tuyến sau lâu ngày không phù hợp với tính cách sôi nổi như anh. Năm một chín sáu lăm, anh trở lại chiến trường Bến Tre. Đám cưới đã trên hai năm mà anh và chị mới chính thức “động phòng hoa chúc”. Anh nhận nhiệm vụ ở Ban Tuyên huấn Huyện ủy Ba Tri. Nơi đây, Thường Dân cảm thấy bất tiện khi hai cha con sinh hoạt chung một chi bộ. “Đồng chí con” sẽ xưng hô ra sao khi sinh hoạt phê bình, tự phê bình với “đồng chí cha”?!...

Đầu năm một chín sáu bảy, cụ Phong Huyền đồng thuận cho con chuyển công tác, gia nhập vào đơn vị Đặc công biệt động Thị xã. Thấy Thường Dân giỏi chữ, có năng khiếu văn nghệ nên được thủ trưởng giao thêm nhiệm vụ hoạt động văn hóa văn nghệ. Những lúc rảnh rỗi sau chiến đấu, Thường Dân lại đảm nhiệm từ A đến Z cho các tờ báo tường và bản tin nội bộ… Tất tần tật mọi chuyện làm báo nội bộ chỉ có mỗi mình anh. Lúc nào anh cũng tất bật, nhưng vui vẻ, hăng hái tạo ra sản phẩm phục vụ văn hóa tinh thần cho đơn vị trong hoàn cảnh chiến tranh. Đồng đội mến anh và thích thú với cái tên  Thường Dân.

Hàng đêm mỗi lần điểm danh, trực ban đại đội gọi tên “Thường Dân” thì lập tức nghe tiếng “có” dõng dạc làm cả đại đội không thể nín cười. Bởi lẽ, một quân nhân mang súng trang nghiêm trong đội ngũ lại là một  Thường Dân trả lời “có” mà không gây cười cho mọi người mới là lạ! Sự “không nghiêm túc” lặp đi lặp lại hàng đêm. Ban chỉ huy đại đội đề nghị anh đổi bí danh. Bao đêm trằn trọc lựa chọn bí danh với yêu cầu không “đụng hàng” và không kêu, không oách… Cuối cùng, bí danh “Trường Ngân” có âm ngữ liền vần với “Thường Dân” được chọn. Sáu năm mang danh “Thường Dân” chỉ còn là kỷ niệm đẹp trong lý lịch của Phạm Vân Thanh. Giờ đây, thỉnh thoảng đồng đội cùng thời gặp nhau gọi anh đúng danh “Thường Dân” như nhắc nhớ kỷ niệm những năm đầu tham gia kháng chiến.

“TRƯỜNG NGÂN” BÂY GIỜ

Bí danh Trường Ngân được “khai sinh” từ Đại đội Đặc công Biệt động Thị xã và gắn bó với cựu binh Phạm Vân Thanh đến tận bây giờ.

Một ngày cuối năm một chín sáu bảy, Trường Ngân lọt vào “tầm ngắm” của Châu Công - đại đội trưởng Đặc công thủy. Thế là Trường Ngân về đầu quân ở một đơn vị anh hùng của Châu Công và sau đó là của Ba Sơn Sừng, Tám Hòa… một thời oanh liệt. Nơi đây, anh nhanh chóng hòa nhập với tập thể “người nhái” nổi danh của chiến trường Khu Tám. Tuy anh không được phân công cùng với những “người nhái” như  Lê Văn Phích, Hoàng Lam, Hoàng Ba, Hữu Tâm, Năm Huỳnh, Thắng Lợi, Út Minh… trở thành những “kình ngư” tung hoành trên sông nước, diệt căn cứ nổi và chiến hạm của quân thù. Nhưng anh luôn được ban chỉ huy đơn vị tin tưởng giao phó nhiều việc tựa như một trợ lý đa năng của tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật. Anh hoàn thành tốt vai trò thư ký, đồ bản tác chiến, quản lý, tài vụ, quân khí, quân lực… kiêm luôn hoạt động văn hóa văn nghệ. Trận đánh nào của Đặc công thủy cũng đều có công phục vụ của anh như chuẩn bị đầy đủ khí tài đặc dụng cho trận đánh, thư ký tác nghiệp phương án, đồ bản báo cáo chiến lệ… Mỗi lần tổ “người nhái” thắng trận được thưởng huân chương chiến công, thì quân nhân “đa năng” Trường Ngân cũng được trao bằng khen. Lúc rảnh rỗi ở hậu cứ thì vai trò “chiến sĩ văn hóa” của anh được phát huy tối đa. Trường Ngân tiếp tục đảm nhiệm từ A đến Z cho các tờ báo tường, bản tin nội bộ và cả giai phẩm xuân cho đơn vị Đặc công thủy Bến Tre, phát hành khắp các đơn vị vũ trang trong tỉnh.

Nhiều người ngạc nhiên khi biết thương gia mỹ nghệ dừa nổi tiếng ở Bến Tre mà cũng biết biên đạo múa, làm báo, sáng tác nhạc… trong kháng chiến. Sau hòa bình, Trường Ngân còn là cộng tác viên của báo Đồng Khởi với bút danh “Hàng Mặc Thử” và “Lão Nông Tri Điền”. Công việc sản xuất, kinh doanh khi đã phát triển thì ngày càng chiếm hết thời gian, buộc anh phải tự nguyện “treo bút”.

Cựu binh Trường Ngân trở về đời thường ở tuổi bốn mươi. Cái tuổi không còn trẻ, cũng chưa phải già, nhưng đã vượt qua mức “tam thập nhi lập”. Bước ra thương trường ở giai đoạn giao thời giữa cơ chế bao cấp cố trì trệ và cơ chế thị trường định hình chưa rõ là điều cực khó đối với một cựu binh mà chính anh cũng tự xác định “văn dốt, võ nhát”, trình độ “lớp hai thì cứng, lớp ba lại mềm”, không nghề, không vốn, không bằng cấp… Bạn bè nhiều, nếu sáng ra quán, chiều lại vào quán thì cuộc đời nhanh “rụt tùng” và vợ con nheo nhóc. Khởi nghiệp của Trường Ngân chỉ đơn giản do sự đòi hỏi của cái bụng đói, buộc cái đầu phải suy nghĩ lựa chọn làm cái gì cho vừa sức mình. Thử vận may trong nghề sản xuất, hàn tiện cơ khí, sửa chữa máy nổ, chế tạo hộp số thủy động cơ, tuy có thành công, nhưng thị trường không phát triển. Trong lúc “ngồi chờ sung rụng” (đợi khách hàng mang hộp số hư đến sửa), anh mày mò đan thử giỏ xách bằng cọng lá dừa với tâm niệm đơn giản “người ta làm được, mình ráng làm thử xem sao”. Nhiều ngày ăn không ngon, ngủ không yên vì cái giỏ xách đan thử chưa thành. Mặc dù luôn tâm niệm “Thất bại là mẹ thành công!”, nhưng sau  hàng chục lần phá sản sản phẩm thử nghiệm làm anh nản lòng. Khi sắp đầu hàng sự thử nghiệm thì anh chợt nhớ đến lời Thiếu tướng Nguyễn Hữu Vị từng nói với anh em trinh sát và thông tin liên lạc trong chiến tranh: “Chưa biết thì đi cho biết, biết rồi thì đi cho nhanh, lỡ đi lạc thì biết thêm đường mới…”. Câu nói của người chỉ huy quân sự năm xưa đã tiếp sức cho sự nỗ lực của anh và trở thành phương châm hành động “Chưa làm thì làm cho biết, biết rồi thì làm cho nhanh, làm chưa đạt thì có thêm bài học…”.

 Sự kiên nhẫn đã dẫn đến thành công sản phẩm giỏ xách bằng cọng lá dừa. Sản phẩm đầu tiên được cấp giấy chứng nhận kiểu dáng công nghiệp độc quyền của cơ sở Trường Ngân. Báo Đồng Khởi giúp Trường Ngân đăng thông báo “dạy nghề” miễn phí. Anh truyền nghề cho nhiều bà con lao động nghèo trong tỉnh, biết tận dụng nguyên liệu thứ phẩm dừa tại chỗ, tăng thu nhập ổn định để cải thiện cuộc sống, thực hiện phương châm “Bất ly nông, không ly hương”. Phát huy thành công ban đầu, anh luôn sáng tạo ngày càng nhiều sản phẩm từ thứ phẩm của cây dừa.

Tận dụng được các thứ phẩm, thì cây dừa coi như dâng hiến toàn bộ lợi ích  cho đời. Từ cơm dừa là chính phẩm được người đời sử dụng làm nguyên liệu quan trọng để chế biến ra nhiều mặt hàng tiêu dùng, trong đó dầu dừa, cơm dừa nạo sấy, nhất là kẹo dừa ở Bến Tre trở thành thương hiệu nổi tiếng.

Ngoài  cơm dừa, phần còn lại của cây dừa như gỗ, gáo, chà, lá, xơ, trái dừa điếc, vỏ,  mo nang… tất cả các thứ phẩm đó được anh biến thành hàng trang trí, đồ dùng nhà bếp, quà lưu niệm, đồ chơi trẻ con…

Bà con nông dân gần xa cùng với Trường Ngân “phanh da xẻ thịt” cây dừa để sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ với hơn năm trăm sản phẩm phục vụ cho sự phát triển kinh tế địa phương, góp phần xóa đói giảm nghèo. Thân và gáo dừa làm đũa, muỗng, nĩa, đĩa, bình, ly, tách, hộp đựng thuốc, gạt tàn thuốc, gương, lược, túi xách tay, con đồi mồi, tôm, cua, ếch, nhái, bình hoa, các loại cúp bóng đá… trông thật sắc sảo làm cho du khách mê hồn. Đồ chơi cho trẻ em là búp bê, xe lôi có người kéo, xe ngựa, xe lôi đạp, xe lôi máy, rồi vespa, xe jeep, xuồng chèo… . Chà dừa làm lồng đèn. Mo nang làm thuyền hoa. Cọng lá dừa làm giỏ xách, lẵng hoa. Vỏ dừa làm đồng hồ, bình giữ ấm nước trà, mũ bảo hiểm thời trang… Trái dừa được thổi hồn thành mười hai con giáp và giò lan, tổ chim xuất khẩu. Dừa điếc cũng đến được Hợp chủng quốc Hoa Kỳ với biểu tượng trái bóng bầu dục. Dừa còn được thổi hồn thành hình thù ngộ nghĩnh của ba chú khỉ che mắt, che tai, che miệng ẩn chứa một triết lý phương Đông: “Việc xấu không nhìn, lời xấu không nghe, nói có hại cho người không nói”. Đặc biệt hộp danh thiếp có mô hình cái mõ sẽ cho ta “danh” trong “thiếp”  vang vọng mãi như tiếng mõ Đồng Khởi năm xưa…

Các sản phẩm ban đầu được Trường Ngân sản xuất bằng thủ công, tiến dần sang bán tự động và hiện nay thì mẫu mã kiểu loại sản phẩm được đồ họa, lập trình trên vi tính, sau đó sản xuất hàng loạt bằng kỹ thuật tự động hóa tiên tiến trên máy tiện CNC. Mặc dù ở tuổi gần thất thập, cháu nội cháu ngoại đông đảo đề huề, nhưng chủ cơ sở Trường Ngân chưa muốn ngơi nghỉ. Vẫn tác phong của một quân nhân ngày nào, luôn tất bật với công việc, giải quyết từng khâu chính xác, dứt vạt. Anh cùng với con trai út thường lên máy vi tính, sử dụng thành thạo các công cụ thực hiện đồ họa, lập trình sản phẩm, giải quyết kịp thời những đơn thư đặt hàng qua e-mail…

Từ trong nhà bếp đến bàn ăn, phòng ngủ, phòng khách sang trọng. Từ đồ chơi trẻ em đến gương, lược của phụ nữ, cây gậy cho ông già. Từ trong nước ra nước ngoài, đến cả những thị trường khó tính  như Mỹ, Anh, Pháp, Hà Lan, Đài Loan, Nhật Bản và nhiều nước khác được một số công ty ở thành phố Hồ Chí Minh làm trung gian xuất khẩu các sản phẩm được sản xuất từ thứ phẩm dừa Bến Tre của cơ sở Trường Ngân. Tổ chức hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tặng giải thưởng “Sản phẩm được ưa chuộng nhất” cho cơ sở Trường Ngân.  Hội Cựu chiến binh và Hội Người cao tuổi Việt Nam tuyên dương Phạm Vân Thanh là cựu binh cao tuổi sản xuất giỏi. Đặc biệt, gian hàng trưng bày của cơ sở Trường Ngân trong Lễ hội Dừa Bến Tre lần thứ nhất chỉ đơn giản có hai sản phẩm mỹ nghệ, nhưng cùng một lúc xác lập hai kỷ lục cho bộ muỗng đĩa bằng gỗ dừa và con đồi mồi bằng gáo dừa lớn nhất Việt Nam… “Đại bản doanh” của Trường Ngân là một văn phòng nhỏ xíu. Nơi ấy là phòng làm việc và là “bảo tàng” gia đình về mỹ nghệ dừa, trở thành điểm dừng chân tham quan của khách nước ngoài, người Việt ở mọi miền đất nước, trong đó có nhiều tướng lĩnh, bộ trưởng và có cả những chính khách từng là nguyên thủ quốc gia.

Gần đây, Trường Ngân được tín nhiệm bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Hiệp hội Dừa Việt Nam. Cuối năm, công việc của anh càng tất bật, không còn thời gian để tham gia Lễ hội Dừa lần thứ hai. Thế nhưng, nhiều sản phẩm chất lượng cao của cơ sở Trường Ngân sẽ được chia sẻ trưng bày trong các gian hàng ở hội chợ, góp sức quảng bá mỹ nghệ dừa Bến Tre.

Trường Ngân là một trong số ít người có công mở đường cho ngành sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ từ thứ phẩm của cây dừa. Nhân dân làng nghề Phước Long, Hưng Phong chắc hẳn không quên người truyền nghề đan giỏ cọng lá dừa khi khởi nghiệp. Anh xứng đáng được tôn vinh danh hiệu Nghệ nhân mỹ nghệ dừa – người thổi hồn cho trên năm trăm kiểu dáng sản phẩm thủ công mỹ nghệ để rồi góp sức tạo nên sắc thái VĂN HÓA DỪA BẾN TRE.

 

 Đầu xuân Canh Dần 2010, ông Phạm Vân Thanh - chủ cơ sở thủ công mỹ nghệ Trường Ngân được Ban Chấp hành Hiệp Hội Làng nghề Việt Nam phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân làng nghề Việt Nam”. Đây là nghệ nhân thứ hai của Bến Tre vinh dự nhận danh hiệu này. Trước đó, nhân Lễ hội Dừa lần thứ nhất 2009, bà Nguyễn Thị Điểm, chủ cơ sở kẹo dừa và bánh phồng Thiên Long là người đầu tiên ở Bến Tre được phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân Làng nghề Việt Nam”.

Sản phẩm thủ công mỹ nghệ của cơ sở Trường Ngân từng được tổ chức hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tặng giải thưởng “Sản phẩm được ưa chuộng nhất”. Nghệ nhân Phạm Vân Thanh cũng được tín nhiệm bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Hiệp hội Dừa Việt Nam.

 

Hoàng An

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN

Liên kết hữu ích