Phát huy hiệu quả công trình cống đập Ba Lai

20/11/2015 - 06:42

Nhờ nước ngọt từ cống đập Ba Lai, nhiều hộ dân trồng màu có thu nhập ổn định.

Công trình cống đập Ba Lai hiện vẫn chưa hoàn thành, tuy nhiên trong thực trạng biến đổi khí hậu và áp lực nước mặn xâm nhập sâu ngày càng tăng, công trình này đã đem lại hiệu quả rất lớn cho vùng đất còn nhiều tiềm năng.

Hiện trạng kinh tế - xã hội trước khi xây dựng công trình       

Công trình cống đập Ba Lai là một trong nhiều hạng mục đầu mối quan trọng thuộc hệ thống thủy lợi Bắc Bến Tre, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) phê duyệt từ những năm 2000. Công trình có quy mô cửa thông nước 84m, gồm 10 khoang cửa, 2 khoang giữa mỗi khoang rộng 10m, 8 khoang còn lại mỗi khoang rộng 8m. Cửa van bằng thép phun kẽm tự động đóng mở hai chiều. Cầu giao thông trên cống rộng 7m, cao trình đỉnh đập +3,50. Tổng mức đầu tư toàn bộ công trình là 83,3 tỷ đồng, được triển khai thi công năm 2000 và hoàn thành đưa vào sử dụng năm 2004. Công trình này cùng với nhiều công trình khác của hệ thống thủy lợi Bắc Bến Tre trong vùng dự án có nhiệm vụ ngăn mặn, trữ ngọt, tiêu úng, tiêu chua, rửa phèn, cải tạo cho 139 ngàn héc-ta đất tự nhiên, trong đó có 100 ngàn héc-ta đất sản xuất nông nghiệp, kiểm soát mặn cho trên 20 ngàn héc-ta đất nuôi trồng thủy sản. Đồng thời, công trình còn góp phần hình thành trục giao thông bộ giữa Ba Tri, Bình Đại, phát triển giao thông thủy bộ trong khu vực.

Khi chưa xây dựng công trình cống đập Ba Lai, nguồn sống chính của người dân trong vùng là sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là cây lúa, cây dừa nhưng sản lượng bình quân đầu người rất thấp. Nguồn nước ngọt dùng sinh hoạt khan hiếm trầm trọng. Hàng năm, người dân phải đổi lấy nước ngọt từ thượng nguồn sông Ba Lai chở về. Việc cải tạo đất hoang hóa ven biển đưa vào sản xuất nông nghiệp chưa mạnh mẽ. Biện pháp ngăn mặn và cấp nước ngọt chưa hoàn chỉnh, không chủ động, kịp thời nên cơ cấu cây trồng qua nhiều năm không thay đổi. Tổng diện tích đất lúa vùng Ba Tri, Giồng Trôm, Bình Đại là 62 ngàn héc-ta. Năng suất hàng năm không tăng, chỉ đạt mức trung bình từ 3 - 3,5 tấn/ha. Việc mở rộng diện tích gieo trồng lúa, tăng vụ, thâm canh tăng năng suất đều bị hạn chế. Nguyên nhân là thiếu nguồn nước ngọt, hạn, mặn xâm nhập sâu gây ảnh hưởng trên 2/3 diện tích của vùng dự án. Diện tích trồng dừa khoảng 15 ngàn héc-ta, sản lượng đạt khoảng 23 ngàn tấn. Do vậy, việc mở rộng diện tích gieo trồng lúa bằng khai hoang, tăng vụ, cũng như thâm canh tăng năng suất còn nhiều hạn chế, khó thực hiện. Mặt khác, vùng dự án được bao bọc bởi sông Tiền, Hàm Luông, Ba Lai, đặc biệt sông Ba Lai qua vùng trung tâm cùng hệ thống kênh rạch khá dày đặc nên trong mùa khô hầu hết đều bị nước mặn xâm nhập, nhất là từ tháng 2 - 5, tình trạng thiếu nước ngọt rất trầm trọng và hạn hán thường xuyên xảy ra làm cho đất nhiễm mặn, do thiếu nước ngọt nên sản lượng cây trồng trong khu vực rất thấp.

Hiệu quả sau khi hoàn thiện công trình

Sau hơn 11 năm vận hành, công trình bước đầu phát huy hiệu quả, phục vụ thiết thực cho việc phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, nhất là các xã ven sông Ba Lai ở cù lao Bảo và An Hóa. Công trình tác động tích cực giúp nông dân Bình Đại chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi thích hợp, mang hiệu quả kinh tế, nâng cao đời sống cho dân nghèo. Diện tích trồng lúa tuy không tăng nhưng năng suất bình quân ở các huyện đều tăng. Bình Đại từ 3,5 tấn/ha tăng lên 4,2 tấn/ha; Giồng Trôm từ 4,6 tấn/ha tăng lên 5,2 tấn/ha; Ba Tri từ 4,3 tấn/ha tăng lên 4,9 tấn/ha. Tại các xã ven sông Ba Lai phía trong cống đập từ Long Hòa đến Thạnh Trị (Bình Đại), nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi thích hợp, kết hợp trồng xen, nuôi xen, nâng cao hiệu quả trên đơn vị diện tích. Diện tích vườn dừa của các huyện Giồng Trôm, Ba Tri, Bình Đại năm 2005 là 16 ngàn héc-ta, sản lượng thu hoạch 100 ngàn tấn. Hiện nay, tổng diện tích vườn dừa của 3 huyện là 25 ngàn héc-ta, sản lượng thu hoạch 195 ngàn tấn. Các vườn dừa xã Châu Hưng, Lộc Thuận, Thới Lai nằm cặp sông Ba Lai, trước đây do ảnh hưởng mặn nên trái nhỏ, nay trái to nhờ phù sa và nước ngọt của dòng Ba Lai bồi đắp. Ngoài tăng năng suất, sản lượng, nông dân còn tận dụng đất dưới chân dừa trồng xen ca cao, chuối, chanh đem lại hiệu quả tăng thêm.

Ngoài lĩnh vực trồng trọt, tại các xã vùng ngọt ven sông Ba Lai như Châu Hưng, Long Hòa, Thới Lai, Phú Long, nông dân phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt gần 400ha, chủ yếu là nuôi cá sâu, ba ba, cá lóc, cá rô đồng. Nhiều trang trại nuôi cá với quy mô lớn đã hình thành ven sông với nhiều chủng loại đa dạng, phong phú, đã mở hướng đi mới cho Bình Đại; tăng cường cấp nước ngọt cho các xã vùng sông Ba Lai của Ba Tri, Giồng Trôm trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Công trình cống đập Ba Lai không những ngăn mặn, trữ ngọt, tiêu úng, tháo chua, cải tạo đất mà còn cung cấp nước ngọt sinh hoạt cho hàng ngàn hộ dân các huyện Châu Thành, Giồng Trôm, Bình Đại. Vùng này cũng đã có nhiều nhà máy nước sạch nông thôn được xây dựng trong thời gian gần đây để khai thác nguồn nước ngọt sông Ba Lai phục vụ sinh hoạt và nuôi thủy sản.

Từ dự án đã xây dựng nhiều nhà máy nước như Nhà máy nước Thới Lai công suất 80m3/h phục vụ cho 3 ngàn hộ dân ở Thới Lai, Phú Vang, Vang Quới Đông, Vang Quới Tây, huyện Bình Đại. Nhà máy nước Long Định, công suất 20m3/h nâng lên 40m3/h, phục vụ cho 1.300 hộ dân các xã Long Định, Long Hòa, Châu Hưng, Phú Thuận, huyện Bình Đại. Nhà máy nước Tân Mỹ, công suất 330m3/h, phục vụ cho 8 ngàn hộ dân ở 13 xã và thị trấn Ba Tri. Nhà máy nước Ba Lai, huyện Bình Đại công suất 2.000m3/h phục vụ cho 1 ngàn hộ dân các xã Thạnh Trị, Đại Hòa Lộc, Thạnh Phước, Thới Thuận và cung cấp nước ngọt phục vụ  nuôi trồng thủy sản.

Dự án Ba Lai gồm rất nhiều hạng mục như cống đầu mối, hệ thống đê ngăn mặn, hệ thống kênh trục. Tuy nhiên, do hệ thống chỉ mới đưa vào sử dụng công trình cống đập Ba Lai, cống Định Trung với quy mô 40m cửa, công trình nạo vét thượng nguồn sông Ba Lai, cống Sơn Đốc 2 với quy mô 60m cửa, một số hệ thống đê biển Ba Tri, Bình Đại. Hiện Bộ NN&PTNT đang vận động nguồn vốn ODA để hỗ trợ tiếp tục đầu tư các công trình lớn như: cống An Hóa có chiều rộng 130m; cống Thủ Cửu có chiều rộng cửa 60m; cống Bến Tre có chiều rộng cửa 70m và hệ thống đê bao ven sông Tiền, sông Hàm Luông. Các hạng mục khác chưa được đầu tư đồng bộ và hệ thống chưa khép kín nên thực tế công trình chỉ mới đáp ứng được một phần yêu cầu ngăn mặn và trữ ngọt.

Mặc dù công trình cống đập Ba Lai chỉ mới hoàn thành giai đoạn 1 nhưng đã có những tín hiệu khả quan. Nếu công trình cống An Hóa, cống Bến Tre, đê ven sông Tiền, sông Hàm Luông khép kín thì chắc chắn cống đập Ba Lai sẽ phát huy hiệu quả cao hơn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong vùng dự án. UBND tỉnh đang đề nghị các bộ, ngành Trung ương tiếp tục xem xét đầu tư các công trình đầu mối còn lại như cống An Hóa, cống Thủ Cửu, cống Bến Tre, cống Tân Phú, cống Bến Rớ và hệ thống đê bao sông Tiền, sông Hàm Luông; bổ sung vốn đầu tư xây dựng tuyến đê biển Bình Đại và hoàn chỉnh đê biển Ba Tri giai đoạn 2.

Bài, ảnh: Thu Huyền

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN