Tội đưa hối lộ?

16/06/2009 - 09:47

Tội đưa hối lộ được quy định tại Điều 289 Bộ luật Hình sự. Tội đưa hối lộ là một trong những nguyên nhân gây nên tệ nạn hối lộ, nó làm cho đội ngũ cán bộ cơ quan Nhà nước, tổ chức bị thoái hóa, biến chất và gây tác hại nhiều mặt đến việc thực hiện chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Chủ thể của tội phạm là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) và từ đủ 16 tuổi (xử lý theo quy định tại khoản 1-Điều 289) hoặc từ đủ 14 tuổi trở lên (xử lý theo quy định tại các khoản 2,3,4-Điều 289). Tội đưa hối lộ được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp.

Đưa hối lộ được hiểu là hành vi của người đưa tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác (trực tiếp hoặc qua trung gian) để người có chức vụ, quyền hạn (người có CVQH) làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Người đưa hối lộ là người có lợi ích liên quan đến việc làm hay không làm của người có CVQH. Lợi ích này có thể là lợi ích trực tiếp của người đưa hối lộ (ví dụ, để được phân nhà, được đi học, đề bạt, bổ nhiệm…) hoặc là lợi ích của người thân quen, bạn bè hoặc cũng có thể là lợi ích của một tập thể mà người đưa hối lộ là đại diện. Hình thức đưa hối lộ rất đa dạng: có thể trực tiếp hoặc qua trung gian, dưới hình thức quà biếu, cho tặng…

Của hối lộ có thể là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác. Hành vi đưa hối lộ chỉ cấu thành tội phạm, nếu của đưa hối lộ có giá trị từ 500 ngàn đồng trở lên. Nếu của đưa hối lộ có giá trị dưới 500 ngàn đồng, thì hành vi đưa hối lộ chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS), nếu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần.

Tội đưa hối lộ hoàn thành từ thời điểm người đưa hối lộ đã đưa tiền, tài sản và yêu cầu người có CVQH làm hoặc không làm một việc có lợi cho người đưa hối lộ (không phụ thuộc vào người có CVQH có đồng ý hay không). Trường hợp người đưa hối lộ mới chỉ yêu cầu người có CVQH mà chưa đưa tiền, tài sản cụ thể thì tội phạm chỉ hoàn thành khi người có chức vụ đồng ý nhận của hối lộ đó. Trường hợp người đưa  hối lộ nhầm tưởng rằng người mà mình đưa hối lộ là người có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của mình, nhưng trên thực tế người đó không có thẩm quyền, thì người đưa hối lộ vẫn phải chịu TNHS về tội đưa hối lộ (phạm tội chưa đạt).

Về mức hình phạt, Điều 289-Bộ luật Hình sự quy định 4 khung hình phạt:

- Khung 1: quy định hình phạt tù từ 1 năm đến 6 năm, áp dụng đối với trường hợp phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

- Khung 2: quy định hình phạt tù từ 6 năm đến 13 năm, áp dụng đối với trường hợp phạm tội có một trong những tình tiết sau: có tổ chức, dùng thủ đoạn xảo quyệt, dùng tài sản của Nhà nước để đưa hối lộ, phạm tội nhiều lần, của hối lộ có giá trị từ 10 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng, gây hậu quả nghiêm trọng khác.

- Khung 3: quy định hình phạt tù từ 13 năm đến 20 năm, đối với của hối lộ có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng.

- Khung 4: quy định hình phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình, áp dụng đối với các trường hợp: của hối lộ có giá trị từ 300 triệu đồng trở lên hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.

Ngoài bị phạt tù, người phạm tội còn có thể bị phạt bổ sung bằng tiền từ  một đến năm lần giá trị của hối lộ.

Để khuyến khích việc tố giác tội nhận hối lộ, tại khoản 6-Điều 289 quy định 2 trường hợp được coi là không có tội hoặc được miễn TNHS:

+ Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.

+ Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn TNHS và được trả lại một phần  hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.

Đ.C (tổng hợp)

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN